Opening Cà Phê Tí Tách's Blog

Wednesday, 27 February 2008

Chuột và hoa hồng




users online

Chuột kêu rúc rích trong rương
Anh đi cho khéo đụng giường, mẹ la...
(ca dao, tục ngữ)

Tháng giêng là tháng Tí, nói chuyện con chuột.

Đã lâu, cũng đến vài năm, có lúc trong nhà tôi nuôi cả cặp mèo, nhưng dưới cái gầm bếp, mớ bẫy lò xo rỉ sét đỏ quánh cứ nằm đó, chờ … Đôi lúc dọn dẹp nhà cửa, tôi phân vân, hay là vứt đi.... biết đâu lúc nào lại cần đến, thấy tiếng tiếc thế nào…hơn nữa mớ bẫy kia luôn nhắc tôi, nhờ nó mình đã từng lập nên kỳ tích đáng nể: Chỉ trong một đêm, có đến mười một con chuột bị bỏ xác.

Ngày đó, khi còn đang làm ở môt cửa hiệu nho nhỏ, có đến bốn, năm bộ đồ tắm đắt tiền cùng một số áo đầm voan trẻ con đã bị lũ chuột xơi tái. Cơn giận ấy lên đến đỉnh điểm, tôi chỉ phát hiện được khi lấy hàng ra cho khách thử. Mỗi món bọn nó gặm vài lỗ, to bằng ngón chân cái, rải rác khắp nơi, có cái thật oái oăm, chúng lựa đúng ngay "mặt tiền" món đồ mà khoét, thế là vô phương cứu chữa!

Tiếc của đến giận xám mặt, ghét cay ghét đắng lũ chuột, tôi đem gom hết kiến thức, kinh nghiệm…, cùng con bé phụ việc, cô cháu cất công, mày mò chế mồi, rồi thức đêm cùng mấy cái bẫy, nhẹ nhàng một, rồi hai con trong đêm đầu ra quân, để rồi đêm sau lập được cái kỳ tích hốt ‘trọn gói’ bầy chuột khốn ấy. Thực ra có thể chúng vẫn còn nhiều, nhưng do bị “động” chúng nghe ngóng nên quyết định di dời, bầy đàn rủ nhau kéo đi nơi khác sinh sống, phát triển giống nòi, trả lại cho cửa hàng tôi sự bình yên ngày nào.

Ngọn nguồn là thế này, từ nhỏ, khi còn ở bậc tiểu học, đã được thấy bố tôi bẫy chuột. Ông bảo chuột là loài tinh khôn và ranh mãnh đến thượng hạng. Ông kể cho con cái nghe những giai thoại xưa, nay quanh loài vật này…, chúng có trí khôn không kém gì con người. Chúng có kiểu ăn cắp trứng rất độc chiêu, một con nằm ngửa ôm quả trứng gà trên bụng, con còn lại nắm đuôi kéo con ôm trứng, cứ thế chúng rinh cho bằng hết ổ trứng của chị gà mái về hang... Ngoài ra, chúng còn hiểu được cả tiếng người, thế nên người ta bảo rằng chớ có chửi chuột, kể cả kiểu chửi đông đổng hay chửi bóng gió gì nó hiểu sất ! Rằng chớ nên gọi “con chuột” mà phải gọi nó bằng “ông Tí”, kẻo nó có tính thù dai, sẽ tìm ra những gì quý giá nhất trong nhà mà cắn phá, cắn cho đến nát bét, phàm đã bị chuột cắn phá món gì thì y rằng sự xui xẻo cứ theo hết năm nọ sang năm kia, đến ngóc đầu dậy không nổi!!…A, cái giống chuột hôi hám, hình dạng loắt choắt, đen thủi đen thùi vậy mà xem ra có nhiều quyền lực với người ta ra phết!

Năm ấy, cách nay đã quá lâu. Một tối mùa hè trên vùng cao nguyên, tôi và bà chị cả chui vào mùng ngủ. Lúc ấy không hiểu chị em tôi giắt mùng kiểu gì, bỗng đang đêm tôi thấy có gì làm mình đau đau, nhưng làm trẻ con chỉ mải ngủ nên đến sáng ra, thức dậy, thấy mấy đầu ngón chân sao rát ơi là rát. Quỷ thần ơi, có đến 2 đầu ngón chân tôi đã bị chuột gặm, đến rươm rướm máu, còn thấy rõ dấu răng chuột cạp để lại trên da non. Bà chị cả tôi cũng hớt hải kêu đau như vậy. Thật quá thể, lúc đó đâu biết gì là xui với hên, nhìn mấy ngón chân chị em bị chuột gặm tôi thấy ghét chuột, ghét nhất trên đời. Bây dám cả gan chui vô tận giường, biến mấy ngón chân người thành món phô-ma khoái khẩu...

Lúc ấy tôi còn có cảm giác sợ hãi khác, tôi lo, sợ không biết loài chuột gớm ghiếc kia có truyền vào tôi cái mầm bệnh dịch hạch nguy hiểm như người ta nói không…

Sau khi biết sự việc, bực tức vì bị lộng hành, bố tôi dặn mẹ lo mồi. Ngày sau ông nghe ngóng động tĩnh, xem xét đường đi lối về của chúng. Ông ra ra vào vào mấy góc nhà, bắc hẳn cái thang trèo lên sát nóc nghe ngóng, ông nói tiếng chuột kêu dày thế kia nhất định dân số chúng đang phát triển vù vù…Sau khi xác định "bộ chỉ huy chuột" đóng trên cái trần carton Mỹ dày cộp kia rồi, ông mới tính toán đặt bẫy, chỗ này, chỗ này..

Tối hôm sau, lúc cả nhà gần đi ngủ, ông bắt đầu vào cuộc. Có tới 2 cái bẫy mới mua về. Tôi thấy hồi hộp xen lẫn sợ hãi khi lần đầu tiên nhìn ông gài bẫy. Trước hết ông kéo mạnh, ngược hẳn ra phía sau cái khung sắt cứng nằm áp sát dãy sườn nhọn hoắt, lởm chởm, ông bảo là nơi sẽ nghiến chặt cái đầu, cái cổ hoặc cái bụng, làm cho con chuột tắt thở, hộc máu mồm, dồn máu mũi chỉ sau vài giây vùng lên, vật vã trước khi về chầu trời…

Gắn miếng mồi vào cái móc cho chặt, tra cọng thép là cái cần tự động vào chốt, thử xem, một tiếng phập thật mạnh, cái bẫy hung hãn giật tung nằm quay lơ trên nền nhà, tốt rồi!...Ông làm lại một lần nữa rồi nhẹ nhàng nín thở đặt bẫy vào nơi định sẵn. Suỵt! Khẽ thôi, rồi ông dặn dò bọn tôi lưu ý kẻo có đứa nào làm sập bẫy, nguy hiểm vào tay chân, lại phaỉ đi chích ngừa vi trùng Tetanos.

Sáng sớm hôm sau, cái chân còn đau rát nhưng khi nghe giọng bố tôi kêu to, tôi bật dậy “A, chuột dái đây… hừm, tới số rồi con ơi… đợi đấy tao tính sổ từng đứa…” Chẳng kể gì bố tôi, chiến lợi phẩm đó làm cho cả nhà được dịp hả hê. Cầm hai cái bẫy lủng lẳng xác chuột chết đen ngòm ra sau vườn, ông nói đem đào lỗ chôn vậy một thời gian để rồi làm phân bón, rất tốt cho mấy gốc hồng Đà Lạt. Lúc ấy tôi muốn nhắc sao bố tôi không nói nho nhỏ kẻo bầy chuột nó thù dai…

Hôm sau lại được tiếp thêm 2 chú, một con nhơ nhỡ và một con nhỏ hơn, tôi thấy ông phấn khởi, vui vẻ hẳn ra... sau hai đêm mà được đến những bốn mạng "ông Tí" còn gì!

Những ngày sau đó, bầy chuột dường như bị đánh động, có lẽ thủ lĩnh kiểm tra thấy thiếu vắng hẳn quân số nên ra luật cảnh báo, giới nghiêm… tiếng chuột kêu không còn mấy, ít dần rồi từ từ im ắng hẳn. Người và chuột lúc này đều căng thẳng vì cả hai như đang cùng rình rập nhau...

Phập…Thêm được một chú nữa tới số, cả trước cả sau là năm mạng!

Ngày lại ngày trôi qua...Bố tôi không còn phấn khích như lúc đầu nữa rồi. Hình như đến cả tuần lễ, mười ngày nay vẫn chưa thấy ông được thêm con nào thì phải... Chờ mãi vẫn không thấy tiếng bẫy sập, vài hôm sau đó ông lẳng lặng lôi ra, tháo chốt. Miếng mồi béo kia đã hết hồi linh ứng, mặc dù mẹ tôi cất công thay hẳn kiểu mồi khác, thơm nức, hòng khêu gợi cái bao tử đói của chú choắt nào đó sơ sểnh. Buồn thật, chỉ thấy lũ kiến đỏ thi nhau đục miếng mồi đến gần hết, chỉ còn lại chút rẻo khô khốc, cong queo. Ông dăn khi bẫy chuột, nếu nghe tiếng bẫy sập ta phải thức dậy ngay, xoá hẳn dấu, kể cả vết máu trên bẫy cũng được rửa sạch. Chớ nên để bọn chúng nhìn thấy những cảnh tượng đồng loại bị phơi xác thảm hại, đừng hòng bẫy tiếp được con khác…Lúc ấy tôi thực sự thấy khâm phục những hiểu biết về loài chuột của bố mình.

Một thời gian sau, ông xin ở đâu được con mèo mới lớn, lông mướt rượt mang về nuôi, bảo để rồi nó sẽ bắt chuột. Chị em tôi mừng lắm, thi nhau đặt tên, suốt ngày vuốt ve, ôm ấp…Được vài hôm đã quen quen, chưa thấy thể hiện chút tài cán gì, bỗng ở đâu bầy mèo đực kéo đến, kêu ngao ngaó, vật nhau uỳnh uỵch trên chái bếp cả đêm, sáng hôm sau thì cả nhà đều biết, cô nàng Juliet mèo đã ra đi theo tiếng gọi của trái tim thổn thức. Bố tôi bực dọc bảo sẽ tìm con mèo khác, nhất quyết là mèo đực chứ không nuôi mèo cái nữa.

Nghe ông nói chị em chúng tôi mừng rơn, nhưng chờ, mãi vẫn không thấy ông mang về con mèo đực nào như ông nói. Chúng tôi cũng không bao giờ còn thấy cảnh, chuột phiêu lưu vào tận giường mình để tìm thức ăn thêm lần nào nữa…

Vườn nhà tôi năm ấy, hoa hồng Đà lạt đà hé nụ, thắm màu, rung rinh trong nắng sớm…

Friday, 15 February 2008

Đường về La Mã




users online

Trải qua cuộc đời với nhiều biến cố, từ một anh trai làng dắt díu một vợ một con vào Nam sinh cơ lập nghiệp, cha tôi đi lính từ thời TT Diệm, qua đến TT Thiệu, rồi cuộc đời binh nghiệp của ông tất cả đột ngột kết thúc vào đúng tháng 3 năm 1975, năm ấy ông chỉ mới 46 tuổi, cái tuổi trẻ hơn tuổi tôi bây giờ

Vào năm thủ tướng Khải sang Mỹ, ông đã 77 tuổi, cha tôi ngấm bệnh nặng hơn chục ngày, không còn tha thiết gì đến tin tức thời sự trên BBC nữa, đó là phương tiện và cũng là thói quen hằng ngày, duy nhất suốt mấy mươi năm, kể từ khi vào Nam bằng con tầu há mồm lịch sử năm xưa, vì thế khi tôi nói cho ông biết "Phái đoàn của VN sang Mỹ đông nhất, quan trọng nhất từ ngày giải phóng..." ông thở mệt nhọc và chỉ gật gật đầu...Bệnh càng lúc nặng thêm, thế rồi ông mất sau đó quãng hai mươi ngày, ngày 18 tháng 7 năm 2005.

Nhắc đến Ban Việt Ngữ đài BBC, tôi nhớ lúc còn nhỏ, độ 5 hay 7 tuổi gì đó, cha tôi được Đài gửi tặng một tấm ảnh trắng đen, khá lớn, in thật rõ nét trên loại giấy ảnh dầy và đẹp, hình ảnh các cô chú trong Ban biên tập Việt ngữ độ 5 hay 6 người nay tôi đã quên mất vài người, chỉ còn nhớ được tên chú Xuân Kỳ, Đỗ Văn..., chắc hẳn họ cũng đã nghỉ hưu từ đôi chục năm trước... tấm ảnh thời đó ông rất quý nên đặt vào một khung gỗ, có lồng kính treo trên tường ngoài phòng khách trong nhiều năm, và rồi nó cũng đã lưu lạc theo chiến tranh, sau cuộc di tản đầu tiên, từ vùng cao nguyên những tháng đầu của năm 75.

Người thân quen thường thấy ai từ Bắc di cư vào Nam rồì đến thời kỳ sau năm 75, họ thường vẫn đùa câu quen thuộc là "Chạy trời đâu cho khỏi nắng", cha tôi cũng thường gặp nhiều người nói mình kiểu như vậy. Một nách 7 đứa con, mang cái lý lịch dán thêm chữ "ngụy", hai bàn tay không, nhà cửa chẳng có nên ông đăng ký đi Kinh tế mới (KTM). Ai đến vùng KTM này gặp ngay cái cổng to, 2 bên 2 trụ gạch có ghi hàng chữ, lạnh tanh

Bàn tay ta làm nên tất cả
Có sức người sỏi đá cũng thành cơm

Sau này tôi mới biết đây chính là vùng KTM đầu tiên của cả nước. Ở đấy, một nơi nước độc rừng thiêng, khỉ ho cò gáy...Rồi người ta chở đến một đoàn xe cùng những con người biết từ chối cuộc sống phố phường. Năm tháng trôi đi, bao giọt mồ hôi người người đổ xuống, núi đồi, đá sỏi hoang vu, gai và cỏ dại um tùm, làm thành nơi để sinh sống, trồng trọt để tồn tại, nhọc nhằn gian nan, thiếu thốn không thể nào kể xiết... Không ít người đã bỏ mạng, đầu hàng, hoặc bằng nhiều cách khác nhau, họ từ từ rời bỏ chốn ấy, chỉ còn lại một số trong đó có gia đình tôi. Cha tôi vẫn kiên trì, ông bảo ở đâu cũng thế thôi, hãy cắn răng mà làm...

Ngày ấy, cái phương tiện để theo dõi tin tức thời sự của ông vẫn luôn là chiếc radio đem theo bên mình, ngay cả khi di tản bị lạc trong cánh rừng rậm gần Tuy Hoà năm 75 đó vẫn còn, trông cũ kỹ, sứt sẹo và méo mó nhưng nó thực bền bỉ hơn người ta tưởng nhiều. Còn cái ông vẫn cần nghe hàng ngày thì bị thay tên, nói cho gọn lại họ gọi là "đài địch", họ gọi thế và chẳng ai cần nghe ông giải thích rằng ông không thể bắt đầu một ngày bằng việc không được nghe tin...rằng ông đã biết nghe nó từ lúc ông còn là một thanh niên cường tráng. Nên để được có những tin tức mới trên thế giới hàng ngày, các bài bình luận, được nghe phỏng vấn tướng tá SG hiện sống bên Mỹ...mà đôi khi làm ông phấn khới ra mặt, ông dặn bầy con cách tốt nhất để nghe được đài hằng ngày là mở thật khẽ, chỉ vừa đủ nghe và biết tắt ngay máy khi có người lạ vào nhà.

Tôi nhớ mang máng lúc ấy đài BBC phát một ngày 3 buổi, hình như là vào 6h sáng, 6h30 và 9h30 tối. Ngày ngày, sau hai buổi lao động nhọc nhằn, cơm nước xong xuôi là trời chập choạng tối, bên ánh đèn dầu leo lét, đoạn nhạc hiệu trầm hùng của đài BBC nổi lên, nghe nhiều nên anh em tôi đều thuộc nằm lòng. Cả nhà tôi vây quanh chiếc radio nhỏ, tuy chưa biết quan tâm đến thời sự chính trị, nhưng thói quen của ông dần dà trở thành thú vui duy nhất của gia đình tại vùng quê hẻo lánh.

Hôm ấy có một việc làm ông băn khoăn lo lắng. Ông nghe phong phanh có một người ở thôn trên, lén mở nghe "đài địch", bị ông bí thư tên Đàn mới đổi về, vốn là một tay đặc công chuyên nghiệp, phát hiện và bắt được quả tang tại chỗ.., nạn nhân sau đó bị đem ra xã, làm bản kiểm điểm, bị phạt mất bao nhiêu ký lúa, phải viết giấy cam kết...

Từ đó ông dặn con cái cấm đứa nào được mở "đài địch" nghe khi không có ông ở nhà. Ông cũng nói nhiều về thành tích của tay bí thư mới này, tính soi mói và thâm độc của gã dần dà khiến nhiều người e dè sợ sệt ra mặt, gã ta còn có thể đi trong đêm tối như mực chẳng cần đến đèn pin mà vẫn khẽ khàng như một con báo, gã có thể "tàng hình" vào đến tận xó nhà người ta mà chưa bị ai phát hiện... Tụi tôi nghe thế được phen xanh mặt vì sợ, sợ có lúc nào đó tay chuyên rình trộm này ghé vào nhà mình, rồi việc gì sẽ xảy ra sau đó... Sau này, cái cảnh quây quần quanh chiếc radio không còn nữa, ba tôi đã gửi mua chiếc ecouteur(tai nghe) gắn hẳn vào tai để nghe một mình cho an toàn còn các cánh cửa được cài chặt mỗi khi đến giờ, có tin gì quan trọng ông kể cho vợ con nghe lại sau đó.

Sau gần mười năm "chiến đấu" ở vùng kinh tế mới, lớn dần lên rồi anh em tôi mỗi người một tay, cố gắng chèo kéo cả gia đình trở về thành phố, chỉ còn sót cô em gái trót lấy chồng trên ấy, nhà lại ở gần nhà tay bí thư "ác ôn" xưa. Nhiều năm thao túng, khiến lắm người phải xiêu điêu với chức Bí thư của ông, nghe nói sau khi về hưu, ông ta nát rượu, bét nhè, cái cảnh sáng xỉn chiều say nên vợ con chán rồi bỏ mặc, một bà giá nọ cám cảnh ông nên "đậu gạo nấu cơm chung"cũng được đến chục năm rồi. Sau bao nhiêu năm ra sức cống hiến cật lực, giờ đây tháng tháng ông lĩnh gần hai triệu lương hưu, dư sức mình ông cơm ngày ba bữa có thịt cá đề huề cộng thêm vài xị rượu đế...

Hôm giữa năm vừa rồi, cô em gái gọi điện bảo nhờ chị đến thăm ông bí thư Đàn, bị thổ huyết nằm trong bệnh viện, tôi y lời đến thăm ông, lần đầu tiên được dịp gặp con người ấy bằng xương bằng thịt, ông nói giọng trọ trẹ một vùng quê ở Nghệ Tĩnh, nghe nói sau đó ông khoẻ lại rồi về nhà.

Mấy ngày tết Mậu Tý vừa qua, cô em gái về chơi bảo ông Đàn bị tai biến và đi hôm trước tết rồi. Em tôi kể hôm ấy ông kêu nhức đầu, mặt tím tái, muốn đi nằm, bà vợ hờ hối hả kêu người đến cắt lể, xong ông đòi uống rượu, cầm nguyên chai ông "đệm" một hơi quá nửa, sau đó ông nằm rồi "đi êm", chẳng chút đau đớn cực nhọc gì. Tôi nghĩ bụng, vậy là dưới suối vàng nay cha tôi có dịp tay bắt mặt mừng, và hàn huyên cùng ông bí thư xã khét tiếng một vùng Kinh tế mới năm nào.