Opening Cà Phê Tí Tách's Blog

Thursday, 2 October 2008

Thầy ơi, bao giờ cho đến tháng mười




Trích lại bài đăng trên Talawas ngày 2 tháng 10 năm 2008
Trân trọng cảm ơn cô Hoài cùng tác giả.
Nguyễn Phi Hùng
Nhỏ không học, lớn đi dạy
Ngọc bất trác bất thành khí, nhân bất học bất tri lý.
(Nhỏ không học lớn làm đại úy
[1] )

1. Nhỏ không học

Nói chuyện “nhỏ không học, lớn đi dạy” nghe vô lí, nhưng việc học hành của tôi nó đặc biệt lắm. Học xong lớp 12, tôi rành đốt than hơn hiểu về cơ thể, giỏi làm ruộng hơn hiểu định luật III Newton. Lên rừng đẽo cây về làm cột kèo hay đánh tranh lợp nhà, tôi làm tốt hơn viết một bài văn…

Trước 1975, tôi học nửa chừng lớp 5. Mọi môn học đều được dồn trong bộ sách Tám môn yếu lược. Tôi chỉ nhớ rằng, nếu hồi đó không được học nữa thì bao nhiêu kiến thức đã tiếp thu, đủ “ra đời” làm một công dân tốt cho đất nước vào thời điểm đó và hình như cho cả bây giờ. Tôi biết viết một lá đơn đúng cách, viết một tờ thư bày tỏ được tình cảm. Tôi rành các phép toán cộng trừ nhân chia, nắm bắt được khoa học thường thức phục vụ đời sống. Biết qui tắc xã giao, biết tôn trọng nhân phẩm v.v… Tôi liên tưởng thế này: Trong cái dự án “Giáo dục tiểu học cho trẻ em có hoàn cảnh khó khăn” (PEDC) hiện nay, do Bộ Giáo dục và các tổ chức nước ngoài triển khai, nếu được phép dùng bộ sách Tám môn yếu lược cho người học, chắc chắn hiệu quả và đỡ tốn kém biết bao!

Sau 1975 tôi học lớp 6, gọi là lên cấp 2, rồi đến cấp 3, tôi gần như làm nhiều hơn học. Cắp vở (không có sách, hoặc rất ít sách) đến trường “bữa đực bữa cái”, tức là nghỉ học thường xuyên và chưa khi nào mở vở xem bài cũ ở nhà. Không có thời gian làm việc đó. Cứ đến môn học nào, tranh thủ giờ ra chơi, tôi liếc qua một cái đủ đối phó “kiểm tra miệng”, sau đó quên tuốt ngay.

Bây giờ tôi không nhớ lắm kiến thức các môn học, thầy dạy thế nào, sách viết ra sao, nhưng những chuyện tréo ngoe, thiệt thòi cho học sinh, tôi nhớ như in. Cả bốn năm học cấp 2 (lớp 6, 7, 8, 9), bỗng nhiên riêng lớp 8 được học tiếng Anh, mà lại là tiếng Anh lớp 6. Vậy rõ ràng tiếng Anh được học từ cấp 2, tại sao chúng tôi không được học? Trường cấp 2 tôi học ở đồng bằng, cách thị xã Tuy Hòa, nay là thành phố Tuy Hòa có 3 cây số, đâu phải núi non hiểm trở gì. Lên lớp 9, ông thầy dạy tiếng Anh chuyển đi đâu mất. Lên cấp 3 (lớp 10, 11, 12), đó là quãng năm 1980 – 1982, tôi nhớ một chuyện lạ thế này: cả ba năm cấp 3, môn Sinh vật chỉ học độc quyển Sinh vật lớp 12, học duy nhất phần nguồn gốc loài người. Môn Hóa bỏ luôn phần “hóa vô cơ” vì thiếu thầy dạy. Môn tiếng Anh mất tiêu luôn. Các bạn thấy phần nào là đúng, khi tôi nói “nhỏ không học” cả khách quan lẫn chủ quan rồi.

Xin nói rõ trường cấp 3 tôi đang học không phải nhỏ, chứng tỏ học sinh miền Nam khi ấy đều thiệt thòi như tôi. Số này hiện đang độ tuổi 44, 45. Nếu họ làm nông dân thì không nói làm gì, còn nếu họ làm cán bộ hoặc đi dạy học như tôi thì nguy hiểm quá. Hồi đó nếu báo chí được nói như nay, chắc “inh ỏi cả làng”. Bây giờ ngày nào báo chí cũng ra rả mổ xẻ sách giáo khoa thế này, thế nọ, chứ sách giáo khoa khi tôi học, người viết thậm chí không biết nhấn mạnh kiến thức trọng tâm nữa kia, cứ tuôn ra thuông luông vậy. Thỉnh thoảng thấy đâu đó mấy quyển sách giáo khoa Toán, Lí, Hóa… trước 1975 mà phát thèm, vì họ trình bày hay quá, khoa học quá.

Tôi luôn là học sinh trung bình vì có học bài đâu, để được điểm cao. Học tập trung bình, đạo đức trung bình, cứ riết vậy tôi đâm hèn nhát. Tôi đi học giống như ráng ngồi ké trong lớp, trông mau hết giờ để về. Tôi buồn lắm, quá nhiều lần muốn nghỉ học và cũng nhiều lần suýt bị đuổi học. Vậy mà trời thương thế nào, tôi cũng học xong lớp 12.

Thấy bạn bè làm đơn thi đại học, tôi nao nao trong lòng rồi cũng đệ đơn đi thi. Biết phận mình học dở, tôi thi đại học sư phạm (ĐHSP). Đề thi chung cho tất cả các trường, nhưng điểm tuyển sinh ĐHSP luôn thấp nhất. Tôi lủi thủi đi thi rồi lủi thủi về, lên núi đốt than. Ông chú ruột tôi hỏi: “Mày thi đậu không mày?”. Chú hỏi có vẻ xấc, vì học như con của ổng còn rớt, phải xin vô trung cấp sư phạm, cỡ tôi nhằm nhò gì. Tôi trả lời: “Dạ! chắc đậu chớ, ĐHSP lấy điểm thấp mà”. Ông chú không hỏi thêm nhưng tỏ vẻ không ưa vì cho tôi nói dóc. Tháng sau có giấy báo đậu với điểm số ba môn Toán Lí Hóa cộng lại bằng 16. Tôi có vui nhưng rất thất vọng vì điểm thi quá thấp. Lại lủi thủi lên đường đi học. Sau này tôi nghe bạn học trong lớp tôi rớt đại học ráo, có đứa chưa bao giờ nghe thầy cô than phiền về học vấn, thi ba môn cộng lại được 4 con số không, té ra là Toán 0, Hóa 0, Sinh 0, tổng cộng bằng 0. Với 16 điểm, tôi có thể đậu vào những đại học danh giá như: Đại học Hải sản Nha Trang, Đại học Bách khoa Đà Nẵng. Buồn cười hơn, điểm thi của tôi như vậy là quá cao trong lớp toán ở ĐHSP năm đó. Mấy đứa con gia đình lí lịch nhóm 1, đậu vào chỉ có 9 điểm; chưa hết, thí sinh thi khối Văn Sử Địa, đậu ĐHSP tệ hại hơn, 7 điểm, trung bình mỗi môn 2,33 điểm. Vậy mà bảo họ ra trường dạy cho giỏi, cho tốt, có phải quá sức họ không? Ở phổ thông tôi chẳng học hành gì, cũng đậu đại học. Đậu với điểm số trung bình nhưng lại quá cao so với nhiều người, lên đại học tôi càng không học.

Mới chân ướt chân ráo vô trường, vào trễ vì trục trặc giấy tờ, nghe anh lớp trưởng tuyên bố: “Ai ở phổ thông đã học Anh văn 7 năm thì đăng kí lớp tiếng Anh, còn lại học tiếng Nga”. Tôi chọn học tiếng Nga. Sau đi ngang lớp Anh, biết họ học “vỡ lòng” lại mấy bài như: Greetings, At home, Countries… tôi cứ tiếc hùi hụi. Thiệt ra biết một ngoại ngữ nào cũng tốt cả, nhưng trong lòng không thích tiếng Nga thì không học được. Tôi học môn Triết học Mác-Lênin, chỉ nhớ: Vật chất quyết định ý thức. Hết. Tôi học môn Lịch sử Đảng chỉ nhớ: Nhờ Đảng ta mà đất nước được thống nhất như ngày hôm nay. Hết. Có quýnh tôi trăm hèo cũng chỉ nhớ bấy nhiêu đó. Thế mà hết bốn năm đại học, nghiễm nhiên tôi có trình độ “sơ cấp chính trị”, trong học bạ của chúng tôi thấy ghi rõ ràng vậy. Còn tiếng Nga thì khai thiệt, sau bốn năm ĐHSP chỉ nhớ mỗi câu nói của Lênin: “Учимся, Учимся и Учимся…” (Học, học nữa, học mãi).

Mấy ông giảng viên khoa Toán, mười ông thì hết chín không làm chủ được giờ dạy. Ông dạy Giải tích, nhiều lần giáo án để trên bàn bị gió lật sang trang, ông ghi ngay cái định lí cách bài đang học cả “cây số”. Ông thầy Đại số tuyến tính, thì ghi sẵn bài dạy vào tập giấy, mỗi lần quên cứ làm bộ cầm tập giấy quạt quạt vô mặt rồi lén nhìn vào đó. Thấy oải làm sao! Chưa thấy một giảng viên nào biết dùng tiếng Latinh, tiếng Pháp, tiếng Anh viết kèm các thuật ngữ khoa học hoặc từ chuyên môn. Chứng tỏ họ không có khả năng đọc giáo trình gốc mà chỉ nhai lại qua những bản dịch.

Mang tiếng học ĐHSP, tức học ra để đi dạy, nhưng môn Giáo học pháp ít được chú trọng nhất. Môn này được ngầm giao cho một giáo viên dở nhất khoa đảm nhận. Ông này giải toán phổ thông còn không xong, làm sao trình bày phương pháp giảng dạy để học sinh tiếp cận bài toán. Môn Giáo học pháp kết thúc năm thứ ba, tôi chỉ nhớ đúng một câu duy nhất về con đường nhận thức, theo sự luận giải của chủ nghĩa duy vật biện chứng (Dialectical Materialism): “Từ trực quan sinh động đến tư duy trừu tượng rồi mới đến thực tiễn”. Chẳng lẽ một giáo viên bậc trung học phổ thông chỉ cần biết bấy nhiêu đó về cách tiếp cận tri thức thôi sao? Cái gì cũng phải “trực quan sinh động”, coi chừng chết cả vạt!


2. Lớn đi dạy

Tốt nghiệp ĐHSP, tôi xin dạy không được, quái lạ chưa? Tuy nói ĐHSP dễ đậu nhưng cả trường cấp 3, niên khóa tôi hồi đó (có 5 lớp 12) chỉ đúng 3 đứa đậu ĐHSP. Một Toán là tôi, cùng một Lí và một Sử - Chính trị. Vậy nguyên nhân nào thừa giáo viên? Đó là do số giáo viên miền Bắc phủ kín. Hình như tất cả ngành nghề đều có người của các tỉnh phía Bắc, riêng ngành giáo thì đông hơn hết, nhân lực như ứng trực sẵn vậy. Không xin dạy được, tôi đi đào vàng mấy năm, sốt rét gần chết.

Cuối cùng tôi cũng được đi dạy. Nhiệm sở là một trường cấp 2&3 miền núi (từ lớp 6 đến lớp 12). Trường nhỏ, có 20 giáo viên, nhân viên mà có đến hơn 15 người từ vĩ tuyến 17 trở ra. Chỉ mỗi tay hiệu trưởng điều hành hết các công việc, không có hiệu phó. Tôi chịu cực khổ từ nhỏ, ai cũng than thở lương bổng ít ỏi, chứ đối với tôi không thành vấn đề. Tôi còn ba xạo nói: “Nếu tôi làm thủ tướng, việc đầu tiên là tôi cắt bớt lương giáo viên, thầy giáo có đói khổ dạy mới hay!”.

Tôi kể một chuyện thế này: Một chị dẫn đứa con gái đến trường xin học lại. Con bé thấy chuyện học khó quá, đã bỏ học gần hai tuần. Nó đang học lớp 7, tôi đang dạy Toán lớp đó. Được hiệu trưởng đồng ý, chị ta hồ hởi đi ngang qua phòng đợi, gặp mấy giáo viên đang ngồi uống nước, chị tạt vô tâm sự: “Tôi biết nó (con của chị) học dở, chớ mà ráng, chắc ít nhứt nó cũng làm được giáo viên. Kệ nó, mấy thầy thương đừng có la rầy nó”. Nói xong chị cắp nón ra về. Trời ơi, cái bà ăn nói kiểu gì lạ!. Giáo viên già còn bình tĩnh, mấy anh tre trẻ đỏ mặt tía tai. Tôi không bình phẩm gì nhưng thấy trúng quá. Giáo viên cấp 3 (tốt nghiệp ĐHSP) còn có vẻ khó làm, chứ giáo viên cấp 2, cấp 1 (tiểu học), gần như ngành sư phạm lùa hết học sinh tốt nghiệp lớp 9, lớp 12 vào học. Hiện giờ số giáo viên cấp 1, cấp 2 này có bằng đại học (từ xa) cả. Được gọi là giáo viên đúng chuẩn, trên chuẩn mà tiếng Việt xài chưa rành; bằng A bằng B Anh văn tùm lum nhưng thấy người Tây nói chuyện cứ đứng đực, giương mắt ếch ra, rồi cười như người bị tâm thần.

Ngày mới được đi dạy, nói thiệt tôi mừng lắm. Tay hiệu trưởng phân tôi dạy hai lớp 7, tôi vui vẻ nhận công tác. Sau cái vụ bà phụ huynh “trời đánh” phát biểu, tôi mới nghĩ, lẽ ra tôi phải dạy Toán từ lớp 10 trở lên chứ, thế này hóa ra tôi cùng mâm mấy thằng học cao đẳng sư phạm à? Càng nghĩ tôi càng ức, cho dẫu tôi có khiêm tốn nghĩ rằng, nhỏ tôi không học hành bao nhiêu, lớn được đi dạy thế này, quí hóa rồi. Nhưng rõ ràng tôi hơn hẳn mấy anh (chị) chàng giáo viên cấp 2 về chuyên môn cả nút. Nghĩ vậy thôi chứ tôi biết thân biết phận lắm. Tới 3 năm sau, tôi vẫn không được dạy cấp 3. Một lần anh giáo viên đang dạy lớp 12 bị bịnh, tay hiệu trưởng nhờ tôi lên lấp chỗ trống. Còn nhớ hôm đó tôi phải hoàn thành cho hết bài “Khảo sát hàm số”, rơi vô phần hàm số hữu tỉ (rational function). Tôi có khù khờ cỡ nào cũng nhận ra ánh mắt học trò ngỡ ngàng, ngạc nhiên, vỡ lẽ ra: “Sao có ông thầy dạy tốt thế này mà mình không được học nhỉ?”. Lớp 12 đó ra trường, chúng vẫn thường xuyên đến thăm tôi, chúng nói: “Thầy dạy tụi em có hai tiết, nhưng tụi em quí thầy lắm, em chưa thấy thầy cô nào viết chữ đẹp như thầy, nói rõ ràng, dễ hiểu như thầy”. Phụ huynh học sinh cũng biết tiếng, qua hai tiết dạy này. Năm sau tay hiệu trưởng phân công tôi lên dạy toán cấp 3. Chỉ có tôi biết rõ tôi. Tôi làm gì dạy hay đến mức độ đó, chẳng qua ở cái trường miền núi này, giáo viên yếu quá thành ra tôi hay.

Năm tôi đi dạy là năm 1989, đã gần mười lăm năm sau ngày giải phóng miền Nam, nhưng cánh giáo viên miền Bắc vẫn còn mang tâm lí kẻ chiến thắng: Chỉ có họ là hay, là giỏi, là kẻ được quyền áp đặt suy nghĩ của mình cho người khác…

Từ hồi còn học cho đến lúc đi dạy, mỗi lần nghe giáo viên miền Bắc phát âm từ chuyên môn, hoặc tên riêng là tôi không nín cười được. Ví dụ electron thì họ đọc: ê léc tờ rôn, nhà toán học Pascal thì đọc: Pát sì can. Họ còn hay bốc thơm lẫn nhau. Nói hết ra chuyện họ bốc thơm nhau, thêm dài dòng. Tôi chỉ xin kể một chuyện: Cứ hai năm, Sở Giáo dục - Đào tạo tổ chức thao giảng cấp tỉnh một lần, thường tổ chức tại một trường cấp 3 nào đó dưới thị xã Tuy Hòa. Trường tôi cử đi ba giáo viên, một Văn, một Lí, một Toán, được coi là những giáo viên “giỏi”. Cả trường nháo nhác. Tiết dạy đã được biết trước non tháng, dù chương trình chưa tới, vẫn bắt học sinh học, để thầy cô có chỗ dạy thử từ lớp nọ sang lớp kia. Dạy xong rồi góp ý đủ kiểu. Khi khăn gói lên đường “cờ giăng trống giục”, đồ dùng dạy học phải cho người chở đi trước. Kết quả cả ba đều không đạt giáo viên giỏi cấp tỉnh.

Hai năm sau lại đến lượt “đi thi giáo viên giỏi cấp tỉnh”. Tay hiệu trưởng ngó tôi: “Lần này môn Toán, anh Hùng đi chứ”. Tôi buồn buồn chẳng nói gì. Khi biết bài dạy, cũng như lần trước, cả trường lại nháo nhác. Riêng tôi kiên quyết không dạy thử, nếu trường đã chọn tôi tham gia hội giảng. Đến ngày mai đi thi, chiều nay lớp 11 tôi đang dạy, phần hình học không gian đến bài “Khoảng cách”, đúng tiết hội giảng cấp tỉnh, tôi rủ các giáo viên trong tổ dự giờ. Chiều đó tay hiệu trưởng mời hai giáo viên cùng đi thi với tôi, ăn bún với ban giám hiệu. Tôi biết anh ta thích thành tích, mới săn đón chúng tôi thôi. Hiệu trưởng ngồi sát bên tôi hỏi: “Cá anh Hùng đạt giáo viên giỏi không hè”. Tôi lấy giấy lau cái miệng dính mỡ của tô bún bò, nói to cho mọi người cùng nghe: “Nói thiệt, như năm kia cả tỉnh 12 giáo viên Toán tham gia, đạt giỏi cả 10, chỉ có hai giáo viên không đạt (trong đó trường tôi có một), chẳng lẽ tôi không nằm trong top ten đó sao!” Nghe tôi nói, hai người cùng đi với tôi, một Văn, một Sử hơi vững tâm, nhưng những người khác trong ban giám hiệu chắc dễ gai tôi lắm.

Sáng hơm đó tôi lủi thủi đón xe đò đi thị xã Tuy Hòa, đường dài 45 cây số. Chiều đúng 1 giờ 30 tôi vào lớp. Tôi chẳng cần phải gặp trước lớp đó để mớm bài, cũng chẳng cần tranh ảnh vẽ trước. Trong bài “Khoảng cách” có sáu cái hình không gian, nói đến đâu tôi vẽ đến đó, vẽ bằng tay thẳng tưng, mặt phẳng ra mặt phẳng, đường thẳng ra đường thẳng. Dạy xong, tập trung tại hội trường góp ý, chấm điểm. Ngoài giáo viên Toán thực dạy, mỗi trường đều cử người đi theo để yểm trợ. Ban giám khảo hỏi: “Anh Hùng tự nhận xét giờ dạy mình trước đi”. Tôi nói năm câu ba sợi rồi kết luận giờ dạy của tôi đạt mục đích yêu cầu, tôi chả cần gì phải khiêm tốn: “Em còn thiếu sót chỗ nọ, chỗ kia…” Kết quả 11 giáo viên Toán tham gia đợt hội giảng đó chỉ một giáo viên không đạt. Thi cái kiểu gì lạ? Tôi mang cái giấy chứng nhận giáo viên giỏi cấp tỉnh về trường, tay hiệu trưởng “nể” tôi ra mặt. Còn tôi thì buồn thêm một chút nữa.

Sau lần đó hình như cánh giáo viên miền Bắc bớt nổ, bớt bốc thơm cho nhau, kiểu như: “Ông X, ông Y đó hồi cấp ba, đại học, học giỏi lắm”. Thôi thôi, tôi rành cái sự giỏi đó quá rồi.

Mười năm sau, năm 1999 tôi xin về đồng bằng, dạy đúng cái trường ngày xưa tôi học cấp 3. Thời điểm này trường cấp 3 chuyển sang gọi là trường trung học phổ thông (THPT). Vài giáo viên lớn hơn tôi, ngày xưa là thầy tôi, ông nào giỏi, dở tôi cả biết rồi. Giáo viên cùng lứa, tôi càng rõ hơn; giáo viên nhỏ tuổi, tôi rành hơn nữa. Khả năng họ đến đâu, tôi biết. Cũng không đến nỗi ai đó không đủ khả năng dạy theo yêu cầu hiện nay, nhưng để gọi là xứng đáng một giáo viên THPT, bà con ngưỡng mộ, xã hội đặt niềm tin thì không có ai cả, tất nhiên có tôi lẫn chìm trong số đó. Vậy mà họ tụm lại là chê bai học trò bây giờ sao dốt quá. Trời ơi! Sao họ nói được như vậy nhỉ? Xưa họ có giỏi đâu, bây giờ ngổ ngáo thế. Nếu là học sinh giỏi, họ đâu có thèm thi ĐHSP? Như tôi đây ngày xưa, tôi học dở cỡ đó, bây giờ các anh chị có hơn gì tôi đâu? Cứ theo tam đoạn luận (Syllogistic) mà suy, biết ngay các anh chị thế nào! Vài giáo viên, tôi biết tỏng học hành chả ra làm sao, ra trường dạy được vài năm, họ quên tuốt cái đoạn học vấn khi xưa, lên lớp cứ ra rả mắng học trò dốt nọ dốt kia, thiệt không chịu nổi.

Ngược lại với số đông, tôi vẫn thường nói với học trò: “Hồi trước tôi học ở trường này, tôi học dở lắm, may sao giờ tôi được làm thầy”. Học trò cười ầm ầm không tin: “Thầy cứ xạo tụi em không à!” Tôi nghiêm sắc mặt: “Được rồi, không tin phải không, ngày mai tôi lấy học bạ cho xem”. Bỗng cả lớp cười to hơn nữa. Thì ra giáo viên nào cũng khoe mình học giỏi để áp đảo học sinh, và chúng tin đó là thật.

Ngày mới về trường cũ, học trò cứ theo hỏi: “Sao thầy không dạy thêm?” Tôi nói: “Thầy có giỏi giang gì đâu mà dạy thêm, dạy bớt”. Tôi chỉ chúng đến ông nọ ông kia học. Xưa tôi học hành có đàng hoàng, nên nỗi gì đâu mà giờ dạy thêm, tới tháng ngửa tay lấy tiền học trò, tôi mắc cỡ lắm. Tôi có cảm giác dạy thêm giống chuyện làm ăn phi pháp, bất chính vậy. Bởi tôi biết rõ và mọi giáo viên cũng đều biết quá rõ, không cần học thêm học trò vẫn học tốt kia mà!

Tôi năm nay 44 tuổi, dạy học được 19 năm, có lẽ đến cuối đời không ra khỏi Việt Nam để quan sát một trường phổ thông nào đó ở nước ngoài. Nhưng tôi tin chắc không ở đâu có kiểu “thi đua” trong trường học, như Việt Nam hiện nay. Chuyện này nhiều người nói rồi, để sinh động và dễ hiểu, tôi chỉ xin kể: Theo nguồn tin từ học trò, từ các bậc phụ huynh và từ các giáo viên xầm xì, xác định rõ anh giáo viên nọ quá yếu về chuyên môn, đến độ chỉ có thể sắp xếp làm “cán bộ quản lí giáo dục” thì được. Nhưng hãy xem, không có năm nào anh không là “chiến sĩ thi đua”
[2] . Rất đơn giản, anh không bao giờ để lộ một vi phạm hành chính nào, một kiểu nô lệ các qui định. Lớp anh dạy, điểm số môn học của học sinh bao giờ cũng cao ngất, như vậy về chuyên môn anh hoàn thành xuất sắc, ai làm gì được anh. Không có cách đánh giá chuyên môn nào khác, và hình như ngành giáo dục cũng không muốn làm sát sao chuyện này, chỉ tổ mệt xác. Ôi, cái vụ “Nói không với tiêu cực và bệnh thành tích” còn lâu mới thực thi được. Nghe khôi hài thế nào.

Tôi kể giăng dấm có vẻ dài chưa nhỉ? Xin hẹn dịp khác viết tiếp chuyện học và dạy. Tôi mượn một câu mà hàng trăm, hàng ngàn lần khai lí lịch cá nhân, viết bản kiểm điểm công tác, viết bản thu hoạch chính trị,… phải dùng đến nó cho cuối mỗi văn bản, đó là: “Tôi xin cam đoan những lời khai trên là đúng sự thật. Nếu có gì sai trái tôi xin chịu hoàn toàn trách nhiệm”.


Tác giả Nguyễn Phi Hùng là giáo viên trường THPT Trần Quốc Tuấn, huyện Phú Hòa, tỉnh Phú Yên.

© 2008 talawas



[1]Một chuyện vui trước 1975: Thầy đang giảng nghĩa câu “Ngọc bất trác bất thành khí, nhân bất học bất tri lý”. Tức là ngọc chẳng mài chẳng ra chi, người không học trí tri đâu tường. Anh học trò nọ đang lơ mơ ngủ, bị thầy gọi nhắc lại điều vừa giảng. Anh vụt dậy nói: “Dạ thưa thầy đó là nhỏ không học lớn làm đại úy ạ!”
[2]Danh hiệu thi đua cá nhân trong các cơ quan nhà nước hiện nay

Sunday, 7 September 2008

Cựu tù binh VN, ứng viên tổng thống Mỹ John McCain




Thất vọng vì bà Hillary bại trận, buồn, lâu nay tôi bèn xếp xó chủ đề này nhưng thực ra không ngày nào rảnh rỗi mà tôi không theo dõi các diễn biến xung quanh Bầu cử Mỹ.

Chỉ mới cách đây 2 ngày trước, đại hội Đảng Cộng hòa diễn ra trong 4 ngày đã kết thúc với màn thả bong bóng vô tiền khoáng hậu, có tới mấy nghìn cái bong bóng xanh đỏ trắng được thả trên cao từ từ đáp xuống trong tiếng hò reo vang dội, một khung cảnh thật tuyệt vời, tôi ngồi theo dõi từ đầu đến cuối suốt mấy tiếng đồng hồ, trong lòng thấy bồi hồi, vui buồn lẫn lộn thật khó tả...

Trong 4 ngày này, nhiều bài diễn văn quan trọng, những vai vế có máu mặt của phe Republican . Tôi được xem, nghe bà Laura Bush đọc diễn văn, mà trước đây khi lấy ông Bush bà đã giao kèo không bao giờ được bắt bà phải đọc diễn văn, được nghe bà Sarah Palin mà ông McCain vừa chọn vào đứng chung liên danh, cho chức vice president phát biểu. Nữ thượng nghị sĩ bang Alaska, một phụ nữ đẹp, sang trọng và chắc chắn nội lực của bà không hề tầm thường, để được lọt vào tầm nhắm của một người khôn ngoan và đầy kinh nghiệm như ông McCain.

Tuy thiên hạ vẫn cứ ì xèo vì vụ con gái 17 tuổi của bà Palin đang có mang với bạn trai, nhất là phe Dân chủ, bèn vin ngay vào cớ này để công kích đối thủ, chuyện xảy ra thường tình trên các võ đài chính trị, nhất là chính trị của nước Mỹ khổng lồ này .

Còn độ 60 ngày nữa thôi, Mọi thứ đang đi dần đên hồi kết nên càng gay cần, nóng bỏng và những cuộc đấu khẩu triền miên sẽ trình làng dân Mỹ đều đặn cho tới tận một ngày trong tháng 11, vào ngày mà mỗi công dân Hoa Kỳ long trọng cầm lá phiếu Tổng thống Mỹ trong tay mà bỏ vào thùng. Cha mẹ ơi sao mà sung sướng thế không biết

Hôm kết thúc Đại hội đảng Cộng Hòa, ông McCain đọc bài diễn văn quan trọng để kết thúc Đại hội, vốn tiếng Anh lõm bõm của mình tôi không hiểu đủ nhưng cái cung cách diễn đạt, sự chân thành, ánh mắt sáng đến long lanh của ông khi ông phát biểu khiến tôi vô cùng cảm động, đến độ rơi lệ.

Tôi cảm nhận vượt lên trên tất cả trong ông, một người Mỹ già, chính thống, 72 tuổi, tấm lòng, trái tim nóng hổi của tình yêu nước, yêu tổ quốc vô bờ bến... Ngày bước vào chiến tranh VN, ông mang trong sức trẻ cường tráng của mình lý tưởng cùng bầu nhiệt huyết vĩ đại

Khẩu hiệu của ông trong cuộc chạy đua làm ứng viên chức tổng thống 2008 lần này là: COUNTRY FIRST.

Tổ quốc trên hết ! Vâng, phẩm cách con người của ông, trái tim ông, tấm lòng đối với tổ quốc của ông khiến cho tôi, một người ở đất nước VN xa xôi thực sự bị chinh phục và đâu đó trong lòng tôi có trỗi dậy sự thèm khát, ghen tị mơ hồ cho dân tộc bé nhỏ của mình

Nếu là người Mỹ, không thể có cách nào hơn nữa, tôi sẽ bỏ phiếu cho ông, chính ông, John McCain!

TNS SARAH PALIN
CÒN CÓ BIỆT DANH HOCKEY MOM

Saturday, 30 August 2008

Tôi tin, đang có nhiều người Nga hổ thẹn

George Bush

Putin mặt sắt

Zbigniew Brzezinski

Phải đương đầu với nước Nga

Chu Việt dịch


Phương Tây phải chứng tỏ cho Moskva biết rằng mọi mưu đồ tái lập quyền lực trên nước Gruzia hay trên phần đất còn lại của Liên Xô trước đây sẽ không được phương Tây tha thứ.

Chiến tranh Lạnh chấm dứt lẽ ra phải đưa đến một thời kỳ mà các đại cường quốc không còn bức chế những nước láng giềng phải xử lý công việc nội bộ của họ ra sao. Việc Nga xâm lược Gruzia, vì thế, là một chuyện quá đỗi bi đát và có tiềm năng rất đáng quan ngại. Thế giới giờ đây đang canh chừng nước Nga: Liệu họ sẽ tiếp tục sử dụng cưỡng bách để đạt những mục đích đế quyền, hay họ sẽ chịu hoạt động trong khuôn khổ một thế giới đang hình thành với sự trọng thị hợp tác và đồng thuận?

Mưu đồ tàn bạo của Moskva để chế ngự, khuất phục và thống thuộc một nước dân chủ, độc lập nhỏ xíu như thế làm ta nhớ lại thời đại Stalin. Cuộc tấn công Gruzia giống như việc Nga Xô-viết dưới quyền Stalin xâm lấn Phần Lan năm 1939: trong cả hai trường hợp, Moskva đã sử dụng võ lực một cách độc đoán, tàn bạo, và vô trách nhiệm để áp đặt sự thống trị lên một quốc gia dân chủ láng giềng yếu sức hơn. Giờ đây vấn đề là liệu cộng đồng quốc tế có thể chứng minh cho điện Kremlin biết rằng có những cái giá phải trả cho việc ngang nhiên sử dụng võ lực nhân danh những mục tiêu đế quốc đã lỗi thời.

Cuộc xung đột này đã âm ỷ nhiều năm qua. Nước Nga đã cố tình khơi động sự chia cắt lãnh thố Gruzia. Moskva đã đẩy mạnh những hành động ly khai trong nhiều tỉnh thuộc Gruzia như Abkhazia, Ajaria, và dĩ nhiên Nam Ossetia. Nga đã đỡ đầu cho chính quyền ly khai trong những vùng lãnh thổ đó, trang bị vũ khí cho quân đội của họ và cấp cả quốc tịch Nga cho những kẻ ly khai. Nga đã tăng cường những nỗ lực đó từ khi ở Gruzia xuất hiện một chính phủ dân chủ thân phương Tây. Sự căm phẫn của Thủ tướng Vladimir Putin đối với Gruzia và vị Tổng thống của nước này là Mikheil Saakashvili, từng được giáo dục ở Mỹ, dường như đã trở thành một nỗi ám ảnh cá nhân.

Cộng đồng quốc tế đã không hành động đủ để chống trả. Thời gian gần đây, một loạt biến cố đã xảy ra dọc những biên lộ ngưng bắn mong manh cắt ngang lãnh thổ Gruzia đã khiến cho bạo động leo thang, gồm cả việc Gruzia thất bại trong nỗ lực xóa bỏ “chính quyền” Nam Ossetia, một miền đất nhỏ có chừng 70 ngàn dân. Hành động hấp tấp này có lẽ là thiếu khôn ngoan, nhưng việc Nga dùng quân đội để đáp ứng hiển nhiên đã cho thấy là Moskva đã chờ đợi một hành vi như vậy để lấy cớ sử dụng võ lực. Những đoàn quân lớn của Nga đã mau lẹ tràn vào Nam Ossetia rồi cả Gruzia, cho xe tăng tiến vào Gori và dội bom Gori và thủ đô Tbilisi.

Không nên coi hành vi xâm lăng của Nga đối với Gruzia là một biến cố đơn độc. Sự thật là Putin và cộng sự viên của ông ở Điện Kremlin không chấp nhận những thực tại hậu-Xô-viết. Putin đã tỏ ra thành thật khi cách đây ít lâu tuyên bố rằng theo ý ông, sự tan rã của Liên Xô là “một thảm họa địa-chính trị lớn nhất của thế kỷ [20].” Những quốc gia dân chủ độc lập như Gruzia và Ukraine, đối với chế độ Putin, không những là những dị biệt lịch sử mà còn biểu hiện một mối đe dọa trực tiếp.

Ukraine rất có thể là điểm nóng kế tiếp. Các nhà lãnh đạo nước Nga đã công khai đặt vấn đề cần hay không cần tôn trọng sự vẹn toàn lãnh thổ của Ukraine. Họ cũng nhận xét rằng Crimea, một thành phần của Ukraine, phải được sáp nhập trở lại vào nước Nga. Cũng như vậy, áp lực của Nga đối với Moldova đã gây nên sự phân chia lãnh thổ thực sự của nước cựu cộng hòa Xô-viết nhỏ bé này. Moskva cũng tiếp tục cô lập kinh tế các láng giềng châu Á như Kazakhstan và Uzbekistan. Và những quốc gia miền Baltic như Lithuania, Latvia và Estonia cũng đã là đối tượng đe dọa nhiều mặt của Nga, kể cả những trừng phạt kinh tế và những vụ làm rối loạn hệ thống tin-học của các nước này.

Tình thế thật là nguy hiểm. Trước sau gì thì nền độc lập của các nước hậu-Xô-viết cũng đang lâm nguy. Nước Nga dường như có ý niệm xác tín rằng phải có một thực thể siêu quốc gia gì đó do Kremlin cai quản để giám sát hầu như tất cả các lãnh thổ Xô-viết trước đây. Thái độ này phần nào phản ánh cái não trạng duy quốc gia mãnh liệt hiện nay đang thâm nhập giới lãnh đạo của nước Nga. Vladimir Putin, cựu Tổng thống và nay là Thủ tướng đang ngự trên cao trào quốc gia này. Ông đang khai thác nó về mặt chính trị và khuếch trương nó với công chúng nước Nga. Một số người lại còn bàn đến chuyện tái lập sự hiện diện của Nga tại Cuba như một hình thức trả đũa Mỹ đã ủng hộ nền độc lập của các nước hậu-Xô-viết.

Đối với phương Tây, đặc biệt là Mỹ, cuộc xung đột giữa Nga và Gruzia đặt ra nhiều thách đố về tinh thần cũng như về địa-chiến lược. Chiều kích tinh thần thì đã mặc thị hiển nhiên: một quốc gia nhỏ bé mới giành được độc lập sau gần hai thế kỷ bị Nga thống trị xứng đáng được sự ủng hộ của quốc tế; sự ủng hộ này cần đi xa hơn những lời tuyên bố thiện cảm giản đơn. Rồi lại còn những vấn đề địa-chiến lược. Một Gruzia độc lập là thiết yếu cho sự vận chuyển dầu khí quốc tế. Hiện nay, một ống dẫn dầu thô chạy từ Baku thuộc Azerbaijan cạnh biển Caspian, qua Gruzia rồi tới bờ biển Địa Trung Hải của Thổ Nhĩ Kỳ. Sự kết nối này cho phép phương Tây tiếp cận với những nguồn năng lượng của miền Trung Á. Nếu sự tiếp cận này bị cắt đứt thì thế giới phương Tây sẽ mất đi một cơ hội quan trọng để đa phương hóa những nguồn năng lượng của mình.

Phương Tây cần ứng phó với cuộc xâm lược của Nga một cách rõ ràng và cương quyết. Điều này không có nghĩa là sử dụng võ lực. Và chúng ta cũng không nên lâm vào một cuộc chiến tranh lạnh với Nga. Nhưng phương Tây, và đặc biệt là Hoa kỳ, cần phải tiếp tục động viên cộng đồng quốc tế lên án cách ứng xử của Nga. Các ứng cử viên Tổng thống Barack Obama và John McCain nên ưng chuẩn Tổng thống Bush trong những nỗ lực phản kháng hành động của Nga, và đề xuất một lập trường lưỡng đảng về vấn đề này. Điều bất hạnh là một số người ủng hộ các ứng cử viên đang ra sức chỉ trích lẫn nhau một cách vô bổ về những lời tuyên bố công khai về cuộc khủng hoảng ở Gruzia. Biến cố này quá quan trọng để hành xử như vậy.

Hãy còn quá sớm để chỉ ra những biện pháp chính xác nào mà phương Tây cần áp dụng. Nhưng phải làm cho Nga hiểu rõ rằng họ đang có nguy cơ bị thế giới tẩy chay. Đó là một vấn đề mà giới doanh thương cao cấp mới vô cùng quan tâm vì họ có thể ngày càng bị yếu thế vì áp lực tài chánh toàn cầu. Những đầu nậu quyền thế có hàng trăm tỷ đô la gửi trong các trương mục ngân hàng phương Tây. Trong trường hợp một tình trạng căng thẳng kiểu Chiến tranh Lạnh rất có thể xẩy ra, ở một giai đoạn nào đó vì phương Tây đóng băng các trương mục, thì họ sẽ mất mát rất nhiều.

Vào một thời điểm nào đó, phương Tây nên cứu xét giải pháp Thế vận hội. Nếu vấn đề vẹn toàn lãnh thổ của Gruzia chưa được giải quyết thỏa đáng (ví dụ bằng cách bố trí một lực lượng an ninh quốc tế thật sự độc lập thay thế cho quân đội Nga ở Nam Ossetia và Abkhazia), thì Hoa Kỳ nên dự trù rút lui không tham dự Thế vận hội mùa Đông năm 2014 tổ chức tại thành phố Sochi của Nga ngay cạnh biên giới Gruzia đã bị vi phạm. Việc này đã có tiền lệ. Tôi là thành phần của chính phủ Carter trong lúc chúng tôi giương cao ngọn đuốc Thế vận như một vũ khí biểu tượng năm 1980, rút lui khỏi Thế vận hội mùa Đông tại Moskva sau khi Nga tiến chiếm Afghanistan. Liên Xô khi ấy đã có kế hoạch tổ chức một cuộc trình diễn gợi nhớ đến Thế vận hội năm 1936 của Hitler tại Berlin. Sự tẩy chay của Hoa Kỳ đã đánh một cú vào chân thân của Tổng thống Leonid Brezhnev và hệ thống cộng sản của ông, và đã không cho Moskva được hưởng một thắng lợi tầm cỡ toàn cầu.

Cuộc khủng hoảng Gruzia là một trắc nghiệm thiết yếu đối với Nga. Nếu Putin giữ vững ý đồ chiếm đóng Gruzia như một chư hầu và truất phế vị Tổng thống đã được tự do bầu lên – một điều mà Ngoại trưởng của Putin đã rõ ràng đòi hỏi – thì sớm muộn gì Moskva cũng sẽ gây áp lực với Ukraine và các nước khác tuy độc lập nhưng yếu thế. Phương Tây phải đối phó một cách thận trọng nhưng với một tiêu điểm tinh thần và chiến lược. Mục tiêu của phương Tây phải là một nước Nga dân chủ, tham gia việc xây dựng một hệ thống toàn cầu trên căn bản tôn trọng chủ quyền quốc gia, pháp luật và dân chủ. Nhưng mục tiêu ấy chỉ có thể đạt được nếu thế giới nói rõ cho Moskva biết rằng một nước Nga cứ lớn tiếng chủ trương duy quốc gia sẽ không bao giớ thành công trong nỗ lực tạo dựng đươc một đế quốc mới trong thời đại hậu-đế quốc của chúng ta.

__________

Tác giả Brzezinski: nguyên Cố vấn An ninh Quốc gia cho Tổng thống Carter, là đồng tác giả với Brent Scowcroft của cuốn
Hoa Kỳ và Thế giới sẽ xuất bản vào tháng 9 năm nay.


Bản tiếng Việt © 2008 talawas

Nguồn: Tuần báo Time số ra ngày 25 tháng 8.2008

Bernard-Henri Lévy

Mắt thấy tai nghe trong cuộc chiến ở Gruzia

Phạm Toàn dịch

Ảnh REUTERS © Denis Sinyakov / Reuters Lính Nga đi ngang thủ phủ Tskhinvali của Nam Ossetia.


1. Điều đầu tiên đập vào mắt khi ra khỏi thủ đô Tbilissi, đó là không thấy một chút bóng dáng quân đội nào, khiến ta thêm cảm giác lo lắng. Tôi đọc bản tin, được biết rằng quân đội Gruzia tháo chạy khỏi Ossetia sau đó bị đánh tan tác ở Gori đã co cụm về để bảo vệ thủ đô. Thế mà lúc này tôi đang tới ngoại vi thủ đô đây. Tôi đã đi được chừng bốn chục cây số trên cái xa lộ cắt ngang đất nước theo hướng đông tây. Vậy mà chẳng hề thấy dấu vết gì của cái quân đội được nói là đã co cụm lại để chống lại cuộc xâm lăng. Chỗ này, chẳng thấy một điếm canh của cảnh sát. Xa hơn một chút có một nhóm binh sĩ mặc quân phục quá mới. Nhưng không thấy một đơn vị nào ở tư thế sẵn sàng chiến đấu. Không có một khẩu cao xạ phòng không. Cũng không thấy cái cảnh chướng ngại vật chỏng chơ và đường đào chữ chi để ngăn bước quân thù như vẫn thấy ở tất cả các thành phố bị vây trên thế giới. Trong khi xe chúng tôi đang bon bon, một tin ngắn báo xe tăng Nga đang tiến về phía thủ đô. Tin được các đài phát thanh truyền đi và rồi lại được nói ngược lại đã tạo ra một cảnh hỗn loạn không biết gọi tên là gì cho đúng, khiến cho mấy cái ô tô đang liều lĩnh đi ra ngoài thành phố cũng phải quay lui. Và điều lạ lùng là chính quyền cũng chẳng biết làm cách gì cho khỏi hỗn độn.

Phải chăng quân đội Gruzia có ở đó nhưng nấp kín? Nó sẵn sàng xông ra, nhưng vẫn đang còn vô hình? Phải chăng chúng tôi đang được chứng kiến một cuộc chiến tranh, giống như những cuộc chiến có từ bao đời ở châu Phi, với cái mưu mẹo tác chiến cao nhất là càng xuất hiện ít càng tốt? Hay là ông Tổng thống Saakashvili đã chọn cách không-chiến-đấu – tựa hồ như để đặt người châu Âu chúng ta vào cái thế phải chịu trách nhiệm trước các chọn lựa của mình ("
Các vị vẫn nói rằng các vị là bạn của chúng tôi chứ gì? Cả trăm ngàn lần các vị nói rằng với những thiết chế dân chủ của chúng tôi, với ước nguyện chúng tôi gia nhập châu Âu, và với cái chính phủ của chúng tôi – sự kiện hi hữu trong biên niên sử – có một ông Thủ tướng người Gruzia pha Anh, có những Bộ trưởng người Gruzia pha Mỹ, có một Bộ trưởng Quốc phòng người Gruzia pha Israel, đó là cái chính phủ xếp hạng một của phương Tây, đúng vậy không? Nào bây giờ là cơ hội duy nhất để các vị chứng minh điều mình vẫn nghĩ")? Chẳng biết có phải vậy không. Nhưng chuyện có thật đầu tiên chúng tôi bắt gặp là một sự hiện diện quân sự đáng nể đang đi ngược chiều với chúng tôi, một đoàn xe vận tải quân sự Nga, chừng trăm xe là ít, đang bình tĩnh nạp xăng và đi tiếp về hướng thủ đô Tbilissi. Rồi, cách thủ đô bốn chục cây số, ngang thành phố Okami, thì thấy một tiểu đoàn, cũng vẫn là lính Nga như lúc nãy, được một đơn vị xe bọc thép yểm hộ, đang làm nhiệm vụ ngăn cản các nhà báo đi về một hướng này và ngăn cản các người tị nạn đi về một hướng ngược lại.

Một trong những người tị nạn, một bác nông dân bị thương ở trán, người vẫn còn bàng hoàng chưa hết sợ, kể cho tôi những chuyện xảy ra ở làng ông tại Ossetia, nơi ông đã trốn thoát và đi bộ ba ngày để tới được địa điểm này. Người Nga đã tới. Theo sau họ là bầy đoàn người Ossetia và cô-dắc, bọn họ cướp, hiếp và giết. Cũng như đã diễn ra ở Tchetchenia, bọn này tập trung thanh niên lại rồi đưa lên xe tải dẫn tới những nơi không ai biết là đâu. Họ giết những người cha trước mặt các con. Giết các con trước mặt những người cha. Trong gian hầm một ngôi nhà, họ chất bình ga vào để cho nổ tung, họ đã bắt gặp một gia đình trốn dưới đó, họ đã vơ vét sạch những gì những người này định giấu giếm, sau đó họ bắt những người lớn tuổi quỳ gối và cho một phát đạn vào đầu. Viên sĩ quan Nga chỉ huy trạm kiểm soát đứng đó có nghe thấy những lời kể. Nhưng anh ta mặc kệ. Rõ ràng anh ta đã uống say mèm, và anh ta bất cần biết mọi thứ. Với anh ta, chiến tranh đã chấm dứt rồi. Không mảnh giấy rẻ rách nào – ngừng bắn, thỏa thuận năm điểm hay sáu điểm – lại có thể làm thay đổi được cái chiến thắng của anh. Còn cái thằng cha tị nạn nhẵn nhụi kia muốn kể chuyện gì thì mặc mẹ nó.


2. Gần tới thành phố Gori thì tình hình khác đi và chợt căng thẳng lên hẳn. Bên vệ đường, có những chiếc xe Jeep của phía Gruzia nằm trong hố. Xa hơn tí chút là một xe tăng cháy thành than. Xa hơn chút nữa là một trạm kiểm soát quan trọng hơn, họ chặn hoàn toàn đoàn nhà báo trong đó có chúng tôi. Và nhất là tại điểm này họ nói thẳng với chúng tôi là không ai hoan nghênh chúng tôi ở đây hết. "Các vị đang ở trên lãnh thổ Nga”, một viên sĩ quan nói ông ổng và thở ra sặc mùi vodka lẫn vẻ quan trọng. “Không được đi xa hơn những nơi đã được nhà cầm quyền Nga cho phép"… May sao khi đó xuất hiện một chiếc xe có cắm cờ ngoại giao. Đó là xe đại sứ Estonia. Trên xe, ngoài vị đại sứ, còn có vị thư ký Ủy ban An ninh quốc gia Alexander Lomaia, người được phép đi quá khu vực người Nga đóng quân để tìm người bị thương, và ông đồng ý cho tôi cùng bà Isler Béguin; ủy viên nghị viện châu Âu và một nhà báo của tờ Washington Post đi ké. "Tôi không bảo đảm an ninh cho bất kỳ ai đâu nhé”, ông báo trước – “thế là rõ chứ?" Rõ rồi. Và chúng tôi chen nhau vào chiếc xe Audi trực chỉ thành phố Gori.

Đi qua sáu trạm kiểm soát nữa, trong đó có một trạm chỉ là một thân cây được nâng lên hạ xuống bằng ròng rọc và do dân quân phụ trách, chúng tôi đến Gori. Chúng tôi không vào trung tâm. Nhưng từ cái điểm nơi ông Lomaia bỏ chúng tôi xuống để một mình trên chiếc Audi đi thu nhặt người bị thương, cái địa điểm có một chiếc xe tăng to như cái boong-ke di động kiểm soát, chúng tôi đứng từ đây vẫn có thể nhìn thấy vô vàn đám cháy trước mặt. Đều đặn từng đợt các trái pháo sáng soi rực trời, tiếp theo là những tiếng nổ ngắn. Lại vẫn là sự trống rỗng. Mùi vị phảng phất của sự thối rữa và cái chết. Nhất hạng là cái tiếng gầm gừ không ngớt của xe bọc thép, và gần như cứ có hai chiếc xe quân sự thì lại là những chiếc xe “không quan trọng” đầy những dân quân, người nào tay cũng đeo băng trắng và tóc chít lại. Gori không thuộc về cái xứ Ossetia mà người Nga nói là đã có ý định tới để
"giải phóng". Đây là một thành phố của Gruzia. Nhưng người Nga đã đốt nó rồi. Và cướp. Và biến nó thành thành phố ma. Vắng ngơ vắng ngắt.

Ông tướng người Nga Vyachislav Borisov đứng trong bóng đêm và mùi thối rữa giảng giải cho chúng tôi trong lúc chờ đợi ông Lomaia trở lại:
"Thật là lô-gich. Chúng tôi có mặt ở đó vì bọn người Gruzia không có năng lực và chính quyền của họ đã tan rã và thành phố thì rơi vào tay bọn cướp bóc. Các vị nhìn coi…" Trên chiếc điện thoại di động của mình, ông chỉ cho tôi những tấm ảnh chụp các vũ khí được ông nhấn mạnh là từ Israel chuyển tới. "Các vị có cho rằng không cần kiểm soát gì hết mấy thứ hàng họ đó? Vả chăng, tôi muốn các vị biết rằng…" Ông khạc. Rồi ông châm thuốc, tiếng diêm quẹt cháy làm anh lính bé nhỏ đang ngủ trong tháp xe tăng giật mình. "Chúng tôi đã cho mời Bộ trưởng Ngoại giao Israel tới Moskva. Và ông ta được thông báo rằng, nếu còn tiếp tục cung cấp vũ khí cho người Gruzia, chúng tôi sẽ tiếp tục cung cấp cho cánh Hezbollah và Hamas."Chúng tôi sẽ tiếp tục … ” Lời thú nhận mới hay! Hai giờ trôi qua. Hai giờ nghe giảng bài và dọa dẫm. Đôi khi có chiếc xe ô tô tới gần, chạy chậm lại, rồi khi thấy chiếc xe tăng nó lại bỏ đi. Cho tới khi ông Lomaia trở lại với một bà già và một người đàn bà chửa đã được ông moi lên từ địa ngục và nhờ chúng tôi dẫn về Tbilissi.


3. Tổng thống Saakashvili, bên cạnh có cố vấn Daniel Kunnin, nghe câu chuyện tôi kể. Chúng tôi ngồi trong nhà ông tại Avlabari. Đã hai giờ sáng, nhưng bộ máy các cố vấn của ông vẫn hoạt động như đang giữa ban ngày. Ông còn trẻ. Rất trẻ. Một sự trẻ trung lộ rõ qua sự hấp tấp trong các cử động, trong cái nhìn nồng nàn, trong những tiếng cười chợt phát ra hoặc trong cái cách nốc những lon tăng lực Red Bull như người ta uống Coca Cola. Đám người của ông đều rất trẻ. Tất cả các bộ trưởng và cố vấn này đều là những người nhận học bổng của các quỹ kiểu Soros và bị ngưng việc học hành ở Yale, Princeton, Chicago vì cuộc "cách mạng hoa hồng”. Tổng thống yêu cái tinh thần Pháp và nói tiếng Pháp. Mê mải chuyện triết học. Một nhà dân chủ. Một người Âu châu. Tự do phóng túng theo cả hai nghĩa, kiểu Mỹ và kiểu Âu châu. Trong tất cả những nhân vật chống đối lớn mà tôi từng gặp trong đời mình, trong tất cả những ông Massoud hoặc những Izetbegovic mà tôi có cơ hội bảo vệ, đây là con người xa lạ hiển nhiên với cái thế giới chiến tranh, với các nghi thức, các biểu trưng, nền văn hóa của cái thế giới đó – nhưng ông lại đương đầu với chiến tranh.

Ông chợt ngắt lời tôi với một vẻ buồn buồn:
"Cho tôi được nói rõ một điều. Không thể để cho họ cứ nói rằng chúng tôi khởi đầu cuộc chiến này… Bây giờ là đầu tháng Tám. Các bộ trưởng của tôi đang nghỉ hè. Bản thân tôi thì đang ở Italia chữa cho nhẹ cân, và cũng sắp sửa lên đường sang Bắc Kinh. Thế rồi tôi đọc thấy trên báo chí ở Italia: Chuẩn bị chiến tranh ở Gruzia. Ông hiểu rõ ý tôi chứ: tôi đang yên lành ở Italia, và tôi đọc tin tức thấy chính nước mình đang chuẩn bị chiến tranh! Nhận thấy ngay có chuyện gì không ổn, tôi vội vã trở về Tbilissi. Và các cơ quan tình báo của tôi cho biết những gì, ông biết không?" Ông bĩu môi kiểu người bị dán miệng lại và bắt trả lời sao cho đúng… "Người Nga, trong khi họ trút lên các hãng tin của họ những tin tức kiểu đó, thì chính họ đang lùa hết dân chúng ở Tskhinvali ra khỏi thành phố, họ tập trung quân đội, họ vận chuyển quân đội, họ chuyển hậu cần tới lãnh thổ Gruzia và đưa hàng sư đoàn đi qua đường hầm Roky nằm giữa hai miền Ossetia. Nào, giả định là ông phải chịu trách nhiệm trước một đất nước và ông biết tin tức đó – ông làm gì đây?"

Ông đứng dậy, tới bàn làm việc trả lời hai máy điện thoại di động chợt cùng reo chuông, rồi ông trở lại, duỗi thẳng hai cái cẳng dài…
"Với chiếc xe tăng thứ một trăm năm mươi đứng án ngữ trước các thành phố của ông, buộc lòng ông phải chấp nhận sự thật là chiến tranh đã bắt đầu, và mặc dù không cân sức đấy, ông không có chọn lựa nào khác…" Tôi hỏi xem ông có nhận được sự đồng tình của các đồng minh không. Chắc là ông có báo trước cho những thành viên của cái tổ chức NATO đã đóng sập cửa không tiếp nhận ông? Ông tránh trả lời thẳng, nói: "Vấn đề đích thực là những gì nằm sâu bên dưới cuộc chiến tranh này. Putin và Medvedev đều tìm một cái cớ để xâm chiếm chúng tôi. Tại sao?" Ông đếm ngón tay. "Một, chúng tôi là một nhà nước dân chủ, và như vậy là sau khi thoát ra khỏi chủ nghĩa cộng sản, chúng tôi tạo thành một phương án khác với phương án Putin. Hai, chúng tôi là quốc gia có đường ông dẫn dầu và khí đốt chạy ngang từ Bakou qua Tbilissi tới Ceyhan; và như vậy là, nếu chúng tôi bại trận, nếu Moskva cắt vào vị trí của tôi một tay nào đó của công ty Gazprom, thì các ông, người Âu châu, các ông sẽ lệ thuộc hoàn toàn vào người Nga về nguồn cung cấp năng lượng. Và ba là…" Ông chọn trong giỏ đựng trái cây mà cô trợ lý – "người Ossetia", ông nhấn mạnh với tôi – vừa mang tới. "Ba là, xin ông nhìn vào bản đồ. Nước Nga là đồng minh của Iran. Các vị láng giềng Armenia của chúng tôi cũng không xa lạ với người Iran. Hãy hình dung nếu ở Tbilissi có một chính thể thân Nga. Thế là sẽ có một cơ sở địa-chiến lược đi từ Moskva tới Teheran mà tôi nghi rằng cái trục đó sẽ chi phối được thế giới tự do. Tôi hi vọng khối NATO hiểu điều đó…"


4. Sáng thứ Sáu. Cùng với Raphaël Glucksmann, Gilles Hertzog và bà đại biểu Nghị viện châu Âu, chúng tôi quyết định quay lại Gori, nơi người Nga chắc là đã phải rút quân tiếp theo văn bản ngừng bắn do Sarkozy và Medvedev soạn, và tại đó chúng tôi cũng sẽ gặp Trưởng lão Thiên chúa giáo Tbilissi cũng đi Tskhinvali, ở đó có những thi thể người Gruzia được cho chó và lợn tới ăn. Nhưng chúng tôi không sao tìm được vị trưởng lão cả. Người Nga vẫn chẳng rút tí gì khỏi Gori cả. Và lần này, chính chúng tôi cũng lại bị chặn lại trước Gori khi có một xe ô tô phía trước chúng tôi, với một tốp lính không chính quy, dưới con mắt kiểm tra lạnh lùng của một sĩ quan Nga, bắt các nhà báo phải ra khỏi xe, tước máy ảnh và tiền nong cùng đồ dùng cá nhân của họ và cuối cùng thì tịch luôn cả ô tô. Vậy là tin tức đến với chúng tôi là tin sai toét. Cái trò múa may tung tin tức thất thiệt đã thành nghệ thuật trong nghề tuyên truyền của Nga dường như trong vụ này đã khiến họ thành bậc thầy. Thế là chúng tôi phải đi về hướng Kaspi, thành phố nằm ở giữa Gori và Tbilissi, nơi được giới thiệu với chúng tôi là yên tĩnh hơn – những thực ra, lại có hai điều ngạc nhiên khác đón chờ chúng tôi… Điều ngạc nhiên trước hết là những cảnh tàn phá. Cả ở thành phố này cũng đầy những tàn phá. Nhưng ở đây, tàn phá lại không nhằm vào nhà cửa hoặc con người. Thế thì phá gì? Họ phá cầu. Phá nhà ga. Đường sắt đang do một tốp công nhân phục hồi được điều hành từ phòng làm việc của cơ khí trưởng vì ông bị thương nặng ở háng. Cũng bị tàn phá là hệ thống điều khiển điện tử của nhà máy xi măng Heidelberg có vốn xây dựng của Đức đã bị tên lửa có tia lade điều khiển bắn trúng. Giám đốc nhà máy nói với tôi: "Ở đây có 650 công nhân. Hôm nay chỉ có 120 người tới làm việc được. Thiết bị sản xuất của chúng tôi bị phá cả." Ở bến cảng Poti, người Nga đã đánh đắm hạm đội chiến đấu của Gruzia. Có ba điểm trên đường ống dẫn dầu khí đã bị dính đạn. Ở đây, tại Kaspi, người Nga cố tình phá hoại những trung tâm nhạy cảm sống còn của một nền kinh tế có tác động gián tiếp đến nhân dân cả nước. Một chủ nghĩa khủng bố có chủ đích. Cả ở đây cũng thấy rõ cái ý định bắt cả nước Gruzia phải quỳ gối.

Và điều ngạc nhiên thứ hai là xe tăng. Tôi muốn nhắc lại trong bài tường thuật này rằng chúng tôi đang ở cửa ngõ thủ đô nước Gruzia. Ngoại trưởng Hoa Kỳ Condoleezza Rice, tôi cũng xin nhắc lại cho chính xác, đúng lúc này đang họp báo. Thế rồi đột nhiên thấy xuất hiện trên ngọn cây, bay tầm thấp, một trong những chiếc trực thăng mà hễ thấy nó là có điềm xấu đến mức tồi tệ. Và liền đó những người dân còn lại của thành phố Kaspi đổ ra đường, mới đầu thì đứng ở cửa, sau rồi nhanh chóng leo lên những chiếc xe Lada cũ – người nào cũng la hét thật to cho mọi người khác biết rằng quân Nga đã tới và phải chạy trốn. Mới đầu chúng tôi không tin. Vẫn cứ nghĩ như hôm qua, chuyện tin đồn thất thiệt. Nhưng không phải là thất thiệt. Xe tăng của họ đã tới rồi. Chính xác là có năm chiếc. Cộng thêm một đơn vị công binh đang bắt đầu đào hầm. Thông điệp thế là đã rõ. Có bà Rice hay không có bà Rice thì người Nga cũng đến đây như về nhà họ vậy. Họ di chuyển ở nước Gruzia như trên đất bị chiếm đóng. Đây không hoàn toàn là vụ đảo chính ở Praha mấy chục năm trước. Đây là phiên bản thế kỷ 21 – chậm rãi, từng cú nho nhỏ một, hạ nhục, dọa dẫm, phô trương và gây hoang mang …


5. Lần này, cuộc hẹn gặp diễn ra hồi 4 giờ sáng. Tổng thống Saakashvili đã gặp bà Rice suốt cuối buổi chiều qua. Cả ngày hôm qua là gặp Tổng thống Pháp Sarkozy. Với cả hai người, ông đều tỏ ra biết ơn vì những nỗ lực của họ cũng như vì tình bạn của họ mà chẳng ai có thể hồ nghi – ông đã chẳng “cậu cậu tớ tớ” với "Nicolas" đó ư? Và ứng cử viên McCain, "người gần gũi với bà Rice", lại đã chẳng gọi điện thoại cho ông ngay từ khi bắt đầu cuộc khủng hoảng và mỗi ngày gọi ba lần đó ư? Ấy vậy mà hôm nay tôi lại thấy ông có vẻ u sầu, cái vẻ buồn bã không thấy trong lần đầu tôi gặp ông. Có thể là vì mệt mỏi… Những đêm dài không được ngủ… Những cú bạt trái liên tiếp… Cả cái tiếng gầm gào cảm nhận được ở đất nước ông đang dâng lên mà tôi buộc phải nói cho ông biết: "Mà nếu như Micha không đủ sức bảo vệ chúng ta thì sao? Nếu như vị Tổng thống trai trẻ sục sôi đó chỉ đem lại sấm sét cho chúng ta thì sao? Và nếu như để tồn tại, chúng ta phải chịu chấp nhận ý chí của Putin cùng cái quân bài tay sai ông ta đã có sẵn thì sao?" Hẳn là đủ thứ dư luận trong dân như vậy cũng có in hằn vào nỗi u sầu của ông Tổng thống. Và cũng còn cộng thêm cả những cái khác nữa – đầy xao động mà nguyên nhân là từ thái độ lạ lùng của các bạn bè… Thí dụ như thỏa thuận ngưng bắn do ông bạn Sarkozy đem tới nhưng văn bản lại được soạn thảo chung với Medvedev ở Moskva. Ông nhớ lại cảnh mình đã gặp Tổng thống Pháp cũng ở trong gian phòng này, và ông ta nóng ruột chờ ông ký. Ông nhớ lại lúc Sarkozy cao giọng và gần như quát lên: "Cậu không còn lựa chọn nào nữa đâu, Micha; hãy thực tế đi; khi người Nga tìm được cách truất cậu đi rồi, thì chẳng một ai trong đám bạn bè, không một ai đâu, sẽ đụng đậy một ngón tay để cứu cậu đâu." Và ông cũng nhớ lại phản ứng lạ lùng của mình, Micha Saakashvili, khi hai người bạn Gruzia và Pháp cùng quyết định cứ gọi điện cho Medvedev; và rằng Medvedev cho người trả lời rằng ông ta ngủ rồi – khi ấy mới chỉ 21 giờ, thế mà ông ta đã ngủ rồi, và không sao liên lạc được với ông ta trước 9 giờ sáng hôm sau; khi đó thì vị Tổng thống Pháp nổi cáu; người bạn Pháp lúc đó cũng không muốn đợi chờ thêm; ông bạn Pháp vội vàng muốn về nhà chăng? Quá tin chắc là vấn đề cơ bản là ký, bất kể ra sao, nhưng ký cái đã? Và Micha nghĩ bụng, thương lượng mà sao lại làm ăn như thế. Cư xử với bạn bè mà sao lại như thế.

Tôi đã nhìn thấy tài liệu dó. Tôi đã nhìn thấy những ghi chú sửa chữa văn bản của cả hai vị Tổng thống, mới đầu là của Tổng thống Gruzia, sau đó là của Tổng thống Pháp. Sau đó tôi được thấy tài liệu thứ hai, cũng có chữ ký của Sarkozy và trao cho Condi Rice tại Brégançon để đem trao lại cho Saakashvili. Và sau cùng tôi thấy bị vong lục về những nhận xét đã được phía Gruzia đưa ra ngay trong buổi chiều và coi đó là chuyện sống còn với họ.

Gruzia đã được chấp nhận – và đây không phải là một chi tiết – xóa đi mọi chữ nghĩa nào ám chỉ đến
"thể chế" tương lai của Ossetia. Gruzia đã được chấp nhận – và đây không phải chuyện đùa – là trong văn bản có nói rõ ra rằng cái "chu vi hợp lý" trong đó quân đội Nga được tiếp tục đi tuần để bảo đảm an toàn cho những người nói tiếng Nga xứ Gruzia (trong văn bản đầu tiên) được cụ thể hóa thành một chu vi "vài kilômet". Nhưng trong cả hai tài liệu chẳng có chữ nào về toàn vẹn lãnh thổ của nước Gruzia. Còn với điều khoản về sự hỗ trợ chính đáng cho những người nói tiếng Nga, thì ai ai cũng lo sợ chuyện đó sẽ có thể áp dụng cho những người nói tiếng Nga ở Ukraine, ở các nước vùng Baltic hoặc ở Ba Lan, khi đến lượt họ cũng cảm thấy bị đe dọa vì một ý chí "diệt chủng"… nào đó. Chính ông người Mỹ Richard Holbrooke, nhà ngoại giao có cỡ và gần gũi với Barack Obama, là người đến gần sáng vẫn còn ngồi ở quầy bar khách sạn chúng tôi cùng ở, đã nói lên một điều chí lý hơn cả: "Trong vụ này có cái mùi vị thum thủm của cung cách xoa dịu như từng xoa dịu ở Munich." Thế đó. Hoặc là chúng ta có khả năng cao giọng thực sự và nói: Putin hãy ngừng tay ở Gruzia! Hoặc là cái con người, theo đúng lời lẽ của ông ta, đã từng rượt đuổi dân thường Tchetchenia tới tận chuồng xí, sẽ lại cảm thấy có quyền hành động như vậy đối với bất kỳ người láng giềng nào. Phải chăng sẽ phải xây dựng châu Âu, hòa bình và thế giới ngày mai theo cung cách đó?


Bản tiếng Việt © 2008 talawas

Nguồn: Báo Le Monde ngày 19.8.2008

Sunday, 3 August 2008

Xăng mắc như cô - nhắc




Cách đây hơn 9 năm, tôi thay cái con ngựa sắt cà khổ 50cc, second hand bằng việc mua xe này, xe mới toanh, 25 triệu 500 nghìn chẵn.

Tôi thích vì nghĩ nó sẽ tốt, bền, gọn nhẹ, chẳng mốt mét gì lắm nhưng cũng không đến nỗi. Mặc quần áo bụi đời cưỡi nó cũng được mà có chưng diện hoành tráng cũng OK luôn. Nó đấy, chiếc Max màu xanh dương...

Sau nhiều năm như đã kể, chiếc xe tuy bề ngoài trông đà lắm vẻ phong trần gió bụi, cũ kỹ ít nhiều nhưng nội tạng vẫn ngon lành, đúng như tôi nghĩ. Qua bao năm tháng vẫn tận tụy theo tôi đi khắp các nẻo, tôi nghĩ nó tốt phần cũng vì ít phải chở (đèo) ai ngồi sau, nhưng chỉ có năm vừa qua tôi can tội bóc lột sức lao động của nó nhiều hơn bao giờ cả.

Ông con tôi vô lớp 6, cái tuổi lỡ thầy lỡ thợ thiệt khổ. Đi đến trường mới phải qua khoảng chục cái ngã tư, chỉ có mỗi 1 cái có đèn đỏ, rồi đến cái ngã bảy ngay trung tâm thành phố, ngựa xe như nước, ào ạt suốt ngày, thấy ớn lạnh nên tôi phải gồng mình làm tài xế suốt năm, đón đưa sáng chiều rạc cẳng, bù lại cho mấy năm tiểu học, trường gần nhà, đi bộ chỉ vài phút.

Lúc ấy tôi đổ ứ ự đầy một bình, kim báo lút cán, mất đâu khoảng chưa đầy 2 chục nghìn. Năm tháng trôi qua, dần dà giá xăng leo từ từ, trước ngày lên giá "nhảy sào" vừa rồi, tôi đổ hết hơn bốn chục. Hôm qua kim báo nằm sát đáy, tôi ghé lại cây xăng, đổ xong móc ra tờ 100 và được thối lại 35 nghìn.

Từ khi xăng dầu thế giới rục rịch mắc mỏ, đầu tiên có độ hai mấy đồng Mỹ, đến lúc nằm ở ngưỡng bảy tám chục đồng, ai cũng tưởng đây là đỉnh rồi nhưng đều nhầm tuốt luốt. Nó đã chễm chệ ở mức gần trăm rưỡi 1 thùng. Nam mô a di đà

Đến nước này thì chẳng ai chỉ ai sất, mấy bác chính phủ khỏi kêu gọi hô hào gì cho tốn hơi. Người người bây giờ (loại trừ mấy bác đại gia, trọc phú) người nào không biết tiết kiệm xăng dầu mới lạ cơ. Đến giàu có sung túc đệ nhất như người Mỹ, Anh mà còn phải tính toán, dẹp bớt xe cộ, đi nhờ, đi ké xe của nhau cho đỡ hao chứ huống gì cái loại dân quèn An nam mít nhà ta.

Đi làm bình thường hay bất thường, cứ dắt xe ra đường đều tự thiết kế sẵn lộ trình, đi đâu đi đâu, chỗ nọ chỗ kia, trước sau cho hợp lý, tránh chuyện đi vòng vèo lả lướt tứ tung như ngày xưa nữa. Kiểu đi này tôi gọi là kiểu "một đi không trở lại", thậm chí tôi còn "đì dai" cả đường đi, lối về của mọi người trong nhà, quyết không để phí chút nào hiệu quả của những "giọt xăng thế kỷ" Ví dụ, thay vì xách xe chạy đi mua cái bóng đèn, ống keo...hay sợi dây xích chó, thì tốt nhất tôi để đó, ngày mai, ngày mốt, ai có lộ trình liên quan thì được lãnh công vụ, sau đó cứ thế mà mang về theo đơn đặt hàng của tui.

Hu hu, như vậy có nghĩa là nếu đang tự nhiên mà hứng chí thích làm cái gì, hoặc cần làm cái gì cũng phải biết tiết kiệm, tiết kiệm mọi sự đi lại có nghĩa là tiết kiệm hết mọi sự trên đời. Phải biết chờ đợi đến lúc mới được thể hiện chứ không phải bạ đâu làm đó, thích đó như bình thường trước đây (kiến bò bụng, stop here để vô bếp chút, rảnh rỗi gõ tiếp)

Monday, 7 July 2008

Người VN cần biết thật rõ về Trường Sa & Hoàng Sa




Bài đăng trên Talawas ngày 7/7/2008 của tác giả, nhà thơ Bùi Minh Quốc. Xin phép được trích đăng lại. Trân trọng cảm ơn.
Tôi đi bán sách về Hoàng Sa - Trường Sa
Cuối cùng thì, vượt qua mọi trở lực, cuốn Hoàng Sa, Trường Sa – Lãnh thổ Việt Nam nhìn từ công pháp quốc tế của nhà nghiên cứu Nguyễn Q. Thắng cũng ra được.

Sách do Nhà xuất bản Tri Thức chịu trách nhiệm pháp lý và ấn hành theo phương thức liên kết giữa NXB với tác giả, một phương thức khá phổ biến từ nhiều năm nay: tác giả tự bỏ tiền đóng cho NXB một khoản gọi là “quản lý phí” để NXB đọc duyệt và cấp giấy phép, rồi cầm giấy phép ấy đi thuê in và tự bán, bán được thì thu hồi đủ vốn, không bán được thì…, chuyện này dịp khác xin sẽ kể dài dài.

Ấy thế nên mới có chuyện tôi đi bán sách về Hoàng Sa, Trường Sa.

Sách in đẹp, công phu, 400 trang, khổ 16x24, giá 86 ngàn đồng. Nội dung sách gồm những cứ liệu lịch sử lâu đời (văn bản và họa đồ) của Việt Nam và nước ngoài kể cả Trung Quốc, được hệ thống hóa, đã minh chứng rành mạch chủ quyền lãnh thổ Việt Nam trên hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa. Sách cũng hệ thống hóa diễn biến tranh chấp cùng các văn bản pháp lý của các nhà nước Việt Nam qua các thời kỳ, đối chiếu với tiêu chuẩn công pháp quốc tế để khẳng định chủ quyền lãnh thổ của Việt Nam trên hai quần đảo ấy.

Nghe tin sách ra, tôi liền gọi điện chúc mừng nhà nghiên cứu Nguyễn Q. Thắng và giục ông gửi gấp vài ba chục cuốn để tôi bán tại Đà Lạt. Tôi cũng điện đề nghị bạn hữu, đồng nghiệp của tôi ở các nơi giúp bán sách.

Cuộc bán sách khá lý thú, đáng được kể lại.

Những khách mua đầu tiên ở Đà Lạt đương nhiên là các bạn tôi, các cụ lão thành, các cựu chiến binh, các nhà giáo…, ai cũng lấy ngay một cuốn, không phải với giá bìa 86 ngàn mà đưa luôn 100 ngàn. Tiếp đó là những khách mà khi mời mua, thâm tâm tôi cũng có hơi ngại bị hờ hững (vì ấn tượng đáng lo về thái độ đối ngoại không tương xứng ở hàng lãnh đạo quốc gia trước đòi hỏi của tình hình), không ngờ lại được hồ hởi đón nhận: đó là ủy viên thường vụ trưởng Ban Tuyên giáo tỉnh ủy, là chủ tịch Hội Văn nghệ tỉnh, rồi cựu phó chủ tịch Hội Văn nghệ, cựu giám đốc Đài Phát thanh Truyền hình... Cũng mua với giá 100 ngàn cả. Tổng biên tập báo Đảng của tỉnh còn yêu cầu được mua hẳn 10 cuốn để cung cấp cho phóng viên, biên tập viên. Chi hội Văn nghệ thị xã Bảo Lộc nhận bán 10 cuốn. Tôi hỏi thăm trưởng Ban Tuyên giáo tỉnh ủy: “Trong tỉnh ủy, mối quan tâm đối với vấn đề Hoàng Sa, Trường Sa và ý thức cảnh giác trước âm mưu và hành động của chủ nghĩa bành trướng thế nào?” Được trả lời: “Rất quan tâm, rất cảnh giác anh ạ.” Mở đọc lướt mục lục cuốn sách, anh gật gù nói tiếp: “Tốt quá, tốt quá, thế là có thêm tư liệu để báo cáo thời sự.” Cũng là một tín hiệu đáng khích lệ. Hy vọng rằng các thành ủy, các tỉnh ủy trong cả nước đều được như thế.

Một giáo sư, giảng viên trường Đại học Đà Nẵng, nói với tôi (qua điện thoại): “Đọc bản tuyên bố ngày 6/9/1951 của Thủ tướng Trần Văn Hữu tại hội nghị quốc tế San Francisco thấy rất tự hào về ý chí bảo vệ độc lập chủ quyền lãnh thổ của người Việt Nam mình, đọc những phân tích của tiến sĩ luật Từ Đặng Minh Thu ở Đại học Sorbonne – Paris in trong phần phụ lục mới thấy bấy lâu Trung Quốc cứ cố dựa vào bức thư năm 1958 của Thủ tướng Phạm Văn Đồng gửi Thủ tướng Chu Ân Lai để biện minh cho hành động xâm lấn của họ là họ cố tình quay lưng với công pháp quốc tế, cho nên bây giờ nhất định ta phải đưa vấn đề này ra Hội đồng Bảo an mà đấu tranh.

Vị giáo sư trẻ này là người giúp bán nhiều sách nhất, chỉ trong thời gian ngắn anh báo tin đã bán hết 30 cuốn, lại phải photo thêm 20 cuốn để tặng bạn bè. Anh cho biết các cán bộ lãnh đạo của trường anh đều là khách mua sách đầu tiên, anh còn đem sách tặng cho bí thư, chủ tịch thành phố Đà Nẵng và trao đổi ý kiến với các cán bộ ấy về quốc sự.

Rồi anh em ở Quảng Ngãi, Nha Trang, Huế đều báo tin đã bán hết sách. Tận Hải Phòng xa xôi, nhà văn già 74 tuổi Bùi Ngọc Tấn cũng nhận bán 10 cuốn, và độ mươi hôm sau bán xong đã gửi tiền vào.

Bán sách thì được nhận một khoản phát hành phí. Nhà nghiên cứu Nguyễn Q Thắng cho biết, đem ký gửi ở các công ty sách thì khoản đó họ lấy 30 - 40% giá bìa. Tôi nói với anh em bạn hữu đồng nghiệp của tôi, mọi người thống nhất 20%, nhưng khi bán xong, nhiều anh em chẳng lấy đồng nào hoặc chỉ lấy chút xíu tượng trưng, còn gửi hết cả cho tôi. Tôi đã gom số tiền ấy cùng tiền phát hành phí của mình và cả tiền khách mua giá cao lại thành một khoản dành riêng đây và báo tin với NXB Tri Thức, đề nghị NXB lập một quĩ để tất cả những ai đi bán sách về Hoàng Sa, Trường Sa mà muốn góp tiền công phát hành cho việc ích nước lợi dân thì gửi vào quỹ.

Quỹ dùng chi những việc gì ?

Theo tôi thì quỹ này trước hết là dùng để đi thăm hỏi gia đình các liệt sĩ đã hi sinh ở Hoàng Sa, Trường Sa.

Tôi cũng đề nghị NXB Tri Thức cùng nhà nghiên cứu Nguyễn Q. Thắng tổ chức biên soạn một cuốn ngắn gọn về Hoàng Sa, Trường Sa, in số lượng lớn với giá rẻ, để sao cho:
  • mỗi học sinh, sinh viên Việt Nam
  • mỗi công dân Việt Nam
đều có thể có một cuốn.

Đồng thời phát động tổ chức việc bán sách rộng rãi đến tận thôn cùng xóm vắng.
  • người người đi bán sách về Hoàng Sa Trường Sa
  • người người mua sách về Hoàng Sa, Trường Sa.
Đồng thời tổ chức cuộc thi viết bài về lịch sử, địa lý Hoàng Sa, Trường Sa dùng cho sách giáo khoa.

Để người người Việt Nam từ già đến trẻ luôn biết và nhớ rằng còn một phần lãnh thổ lãnh hải máu thịt của Tổ quốc thân yêu đang nằm trong tay thế lực bành trướng Trung Quốc.

Để toàn Đảng toàn dân yêu cầu cơ quan lãnh đạo tối cao phải xem xét lại một cách căn bản mối quan hệ giữa Đảng Cộng sản Việt Nam và Đảng Cộng sản Trung Quốc, có phải trên thực tế bấy lâu nay mối quan hệ ấy là lợi bất cập hại?

Để mỗi đại biểu đại hội Đảng và các đoàn thể từ cơ sở tới trung ương, mỗi đại biểu dân cử từ hội đồng nhân xã tới quốc hội phải tỏ rõ lập trường dứt khoát và chương trình hành động cụ thể về nhiệm vụ chống bành trướng, bảo vệ chủ quyền lãnh thổ lãnh hải của Tổ quốc trình bày trước nhân dân, xem đây là tiêu chuẩn hàng đầu trong phẩm chất chính trị của người đại biểu, rồi đảng viên cùng nhân dân sẽ căn cứ vào đó mà quyết định lá phiếu khi bầu chọn.

Đồng thời rất cần tổ chức dịch sách về Hoàng Sa Trường Sa của ta sang tiếng Trung Quốc để sao cho mọi người dân Trung Quốc có được thông tin đầy đủ và chính xác về vấn đề này. Tôi tin rằng khi biết rõ Hoàng Sa, Trường Sa là của Việt Nam thì người dân Trung Quốc nhất định sẽ không tán thành việc nhà cầm quyền Trung Quốc xâm lấn Hoàng Sa, Trường Sa.

Đà Lạt 06.7.2008


Địa chỉ dành cho các bạn cần mua hoặc giúp bán sách:

NXB TRI THỨC 53 Nguyễn Du – Hà Nội. ĐT: 9454661. E-mail:
lienhe@nxbtrithuc.com.vn

CÔNG TY TNHH THƯ LÂM 61/420A Phan Huy Ích Gò Vấp TPHCM. ĐT: 9968045

Friday, 20 June 2008

CỐT KHỈ LẠI HOÀN CỐT KHỈ

Rất tâm phục khẩu phục vì tính tiên tri rõ ràng, cụ thể trong bài viết của tác giả Trần Đông Chấn trên blog của nhà báo Bút Lông, xin mạn phép được chép lại vào blog của mình để ít nhiều nói thay nỗi chán chường, tuyệt vọng của một trong hàng triệu triệu nạn nhân trước tình cảnh "khủng hoảng các loại" hiện nay, chưa biết lúc nào đi đến hồi kết.

Nếu được cảnh báo sớm hơn, nhiều người đã thoát được "bẫy ", trong đó hẳn phải có xác con ve sầu này, tiếc thay...

VND đi về đâu?

Những số liệu được công bố cho biết trong 3 năm từ 2005 đến 2007 tăng trưởng GDP của Việt Nam là 27% (tạo ra thêm khoảng 434 ngàn tỷ đồng giá trị sản phẩm quốc nội) nhưng lượng cung tiền lại tăng tới 135%. Điều này có nghĩa rằng nhà nước đã phát hành thêm một lượng tiền lớn hơn gấp nhiều lần trị giá của cải mà xã hội làm ra được trong 3 năm trên. Nếu lượng tiền đó được lưu thông hết vào thị trường thì sẽ tạo ra khả năng lạm phát lên đến 80% trong quãng thời gian này.

Thế nhưng con số lạm phát danh nghĩa từ 2005 đến 2007 đã được công bố là 27,6% (2005: 8,4%, 2006: 6,6%, 2007: 12,6%), như vậy mức độ lạm phát thêm 52,4% nữa sẽ có thể xảy ra bất kỳ lúc nào từ đầu năm 2008 trở đi. Nếu loại trừ các yếu tố lạm phát không do tiền tệ (giá đầu vào tăng, kỳ vọng của người dân, v.v..) trong con số 27,6% nêu trên thì mức độ lạm phát tiềm tàng còn cao hơn 52,4% nhiều. Con số này chưa xảy ra vào cuối năm 2007 nghĩa là có trên 600 ngàn tỷ đồng (tương đương 52,4% GDP của năm 2007) đã được phát hành nhưng đang bị ghim giữ bởi một số cá nhân và tổ chức nào đó chưa đẩy cho lưu thông vào thị trường.

Tiền đồng đang ở đâu?

Người dân Việt Nam không có thói quen giữ tiền đồng làm dự trữ an toàn, trong tình hình lạm phát tăng nhanh thì biện pháp này lại càng không được lựa chọn. Các doanh nghiệp sản xuất kinh doanh thì luôn trong tình trạng cần vốn, phải đi vay. Các ngân hàng thương mại không có lý do gì cầm giữ một lượng tiền đồng lớn mà không cho vay ra để phải gánh chịu lãi suất huy động trừ các khoản dự trữ bắt buộc. Khả năng duy nhất là một lượng lớn tiền đồng đang bị ghim giữ bởi các quỹ đầu cơ (hedge fund) buôn chứng khoán tại Việt Nam.

Cuối năm 2006 đến cuối năm 2007 đô-la Mỹ bị mất giá mạnh trên thị trường thế giới, lãi suất của nó liên tục giảm; trong thời gian đó Việt Nam vẫn theo đuổi chính sách duy trì tỷ giá tiền đồng thấp; đầu năm 2007 nước ta chính thức gia nhập WTO. Vậy là đã hội đủ các yếu tố cần để tạo thời cơ tuyệt vời cho bầy thú điện tử sừng mềm – cách gọi của Thomas Friedman dành cho các quỹ đầu cơ tài chính trong thời đại toàn cầu hóa – tấn công trục lợi nhanh tại Việt Nam. Các hedge fund mau chóng được thành lập và huy động vốn bằng đô-la Mỹ với lãi suất thấp để đầu cơ vào Việt Nam.

Những tháng cuối 2006 đến 2007 các quỹ này đã rót khoảng 160 ngàn tỷ đồng (tương đương với 10 tỷ đô-la Mỹ) vào thị trường chứng khoán, bơm giá cổ phiếu tăng đến chóng mặt, tạo ra một ma lực cuốn hút người dân đổ tiền vào cổ phiếu. Ước tính đã có hơn 350 ngàn tỷ đồng bị hút vào chứng khoán từ nguồn tự có, vay mượn và thế chấp của người dân. Giá cổ phiếu ít thì tăng vài ba lần, nhiều thì đến vài chục lần, vượt xa hoàn toàn khả năng tạo ra giá trị thực tế của nó.

Khi mọi người đã đạt đến cơn say ghim giữ cổ phiếu bởi giấc mộng làm giàu nhanh thì tai họa ập xuống. Nhưng tai họa không chỉ đến một lần. Mỗi khi các cổ phiếu được đầu cơ bị bán ra ồ ạt để thu lợi, chỉ số chứng khoán sụt giảm thì ngay sau đó sẽ xuất hiện những thông tin hỗ trợ từ chính phủ, từ nước ngoài và được tuyên truyền quá nhiệt tình bởi các phương tiện truyền thông đại chúng chính thống. Người dân lại được hâm nóng bằng những hy vọng mới, bầy thú tiếp tục nhồi tiền làm mồi nhử, cổ phiếu lại lên giá, dân lại hồ hởi mua vào. Cái vòng xoáy hút – nhồi ấy được lặp đi lặp lại nhiều lần trong suốt năm ngoái đến nay. Tiền trong dân tuôn ra ngày càng nhiều, guồng máy hút – nhồi này lại càng tăng công suất, các ngân hàng trong nước càng nhiều nguy cơ.

Kết quả cuối cùng như thế nào thì giờ đây ai cũng thấy, nhưng thật đáng tiếc là chính phủ vẫn không chịu nhìn thấy, vẫn tiếp tục bị thao túng bởi những kẻ cơ hội để ra những quyết sách tiếp tay cho bầy thú điện tử. Tổng công ty SCIC dễ dàng tuôn ra 5 ngàn tỷ đồng để gọi là “cứu” chứng khoán nhưng thực tế là giúp cho những con thú điện tử bán ra những cổ phiếu sắp chết để mua vào những cổ phiếu có tiềm năng thực với giá rẻ mạt, chuẩn bị cho một sự thâu tóm.

Còn nhớ vào đầu năm 2007, khi mà chứng khoán đang trong giai đoạn bị làm giá bởi bầy thú để đầu cơ trục lợi, đã có ý kiến đề nghị SCIC nhanh chóng bán ra số lượng cổ phần của các công ty niêm yết mà tổng công ty này đang nắm giữ để giảm sốt cho thị trường, tăng lượng tiền dự trữ của chính phủ để dự phòng cho người dân đang bị cơn say ma lực. Là một cổ đông lớn nhất trên thị trường, nắm giữ một lượng lớn cổ phiếu của rất nhiều các công ty niêm yết có trị giá vốn hóa đến gần 50 ngàn tỷ đồng vào lúc cao điểm, SCIC hoàn toàn đủ sức làm đối trọng để chống những hành vi lũng đoạn thị trường, làm cho nó phát triển lành mạnh. Nhưng họ đã hoàn toàn bất động, trái hẳn với sự năng động xông vào “cứu” chứng khoán vừa rồi.

Giờ đây, khi mà hàng triệu người đã trở về với “cái máng lợn” thì những con thú điện tử sừng ngắn đã tích lũy được những khoản lời kếch xù, ít thì cũng bằng số vốn bỏ vào, nhiều phải đến một vốn bốn lời. Ngược lại, giá trị tài sản của SCIC đã bốc hơi đến vài chục ngàn tỷ đồng, thế nhưng họ vẫn đang tiếp tục “ôm” vào những cổ phiếu sắp chết. Hiện nay các chỉ số chứng khoán đã lùi về thấp hơn mức trước khi bầy thú tham gia vào thị trường, điều này đồng nghĩa với mấy trăm ngàn tỷ đồng không tự mất đi mà chỉ được dịch chuyển từ túi người dân và túi nhà nước vào túi bầy thú.

Các quỹ đầu cơ này đang kiểm soát một lượng tiền đồng khoảng 500 ngàn tỷ và được giữ tại các ngân hàng nước ngoài ở Việt Nam trong khi mức dự trữ trong dân đang dần cạn kiệt. Và đây chỉ mới là khúc dạo đầu của một kế hoạch. Sau giai đoạn chứng khoán bị làm giá rồi rơi tự do, sẽ đến giai đoạn tiền đồng bị làm giá. Đồng tiền quốc gia của 86 triệu dân đã bắt đầu bị lũng đoạn.

Tiền đồng đi về đâu?

Để hỗ trợ cho đầu tư nước ngoài tăng vọt trong năm 2007, ngân hàng Nhà nước đã được lệnh phát hành thêm tiền đồng vượt mức an toàn để mua đô-la Mỹ. Lý thuyết này sẽ khả thi nếu như nền kinh tế trong nước hấp thụ được lượng vốn ngoại đưa vào đầu tư phát triển sản xuất kinh doanh làm ra thêm của cải cho xã hội, dòng vốn được lưu thông thì ngân hàng Nhà nước dễ dàng hút tiền đồng về nhanh chóng để tránh lạm phát. Nhưng sẽ thật là mạo hiểm và vô trách nhiệm khi những nhà quản lý vĩ mô không nhìn ra và tiên liệu những tình huống ngược lại như thực tế đã diễn ra.

Áp dụng cách thức này trong lúc các điều kiện cần để tạo ra thời cơ tuyệt vời cho bầy thú điện tử đầu cơ đã hội tụ, chính là đưa đến điều kiện đủ cho một cuộc tấn công lũng đoạn có thể bắt đầu. Có nhiều chỉ trích rằng ngân hàng Nhà nước đã không tích cực hút tiền về nên làm lạm phát mạnh, nhưng cần hiểu là không thể thực hiện được điều đó khi mà chính ngân hàng Nhà nước đã tự đặt mình vào bẫy, để quyền điều tiết tiền đồng cho bầy thú kiểm soát.

Luồng vốn đầu tư gián tiếp tập kích ồ ạt vào chứng khoán nhưng hầu như chẳng được đưa vào đầu tư thực sự, nó chạy lòng vòng từ người này qua người khác theo cái vòng xoáy hút – nhồi để cuối cùng quay trở lại túi của bầy thú với trị giá được nhân lên nhiều lần. Các doanh nghiệp niêm yết huy động vốn xong lại tiếp tục đổ vào chứng khoán, chẳng có bao nhiêu tiền từ nguồn này được đưa vào đầu tư mở rộng kinh doanh tạo thêm sản phẩm cho xã hội.

Rất nhiều các lãnh đạo doanh nghiệp niêm yết vô trách nhiệm còn tiếp tay cho bầy thú điện tử lừa cổ đông để cùng hưởng lợi. Một tỷ lệ nhỏ tiền văng khỏi vòng xoáy của bầy thú, vào túi những kẻ tiếp tay. Số vốn này cuối cùng được đầu cơ vào bất động sản hoặc được cất giữ an toàn tại ngân hàng nước ngoài. Còn luồng vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài trong năm 2007 chỉ thực hiện được một phần tư so với đăng ký do những rào cản hành chính, yếu kém hạ tầng và thiếu thốn nguồn nhân lực được đào tạo. Triển khai đầu tư chậm, dòng vốn lưu thông ì ạch thì tiền đâu mà ngân hàng Nhà nước hút vào.

An sinh của gần 86 triệu dân hiện nay đang phụ thuộc hoàn toàn vào sự rộng lượng của “những con sói”. Nếu vài trăm ngàn tỷ đồng đang bị ghim giữ được tung ra đổi thành đô-la Mỹ thì lạm phát sẽ đẩy người dân đến thảm họa. Lượng đô-la này nếu bị đảo chiều – chuyển ra khỏi Việt Nam – thì toàn bộ dự trữ ngoại hối của quốc gia sẽ bốc hơi trong tích tắc nhưng cũng chỉ là muối bỏ bể trước sự thâm hụt cán cân thanh toán và thương mại quốc tế trầm trọng. Một cuộc khủng hoảng tồi tệ nhất không thua gì vụ giá–lương–tiền hồi giữa thập niên 80 của thế kỷ trước sẽ nổ ra ngay sau đó. Tiền đồng – VND sẽ mất giá và rơi tự do.

Ngay đầu năm 2008, rất nhiều các chuyên gia và tổ chức nước ngoài đệ trình lên chính phủ các giải pháp nâng giá tiền đồng so với đô-la Mỹ, thắt chặt tiền tệ, gia tăng lãi suất để kiềm chế lạm phát. Các giải pháp này lẽ ra đã phải được khuyến nghị để thực hiện từ giữa 2006 nhằm chống nguy cơ tấn công của bầy thú điện tử trước khi gia nhập WTO, giảm tăng trưởng ảo của nền kinh tế, kiểm soát lạm phát để kéo dần lãi suất ngân hàng xuống nhằm thúc đẩy đầu tư cho sản xuất kinh doanh thực thụ, nhờ đó nền kinh tế sẽ được tăng trưởng dần theo hướng có chất lượng bền vững.

Thật tiếc rằng các giải pháp vĩ mô trong 2006 – 2007 đi theo hướng hoàn toàn ngược lại, các nguy cơ không những không được tháo gỡ mà còn bị làm cho trầm trọng hơn. Chiến lược tăng trưởng nhờ thu hút đầu tư nước ngoài để gia tăng xuất khẩu đã ngăn cản việc nâng giá tiền đồng hợp lý nhằm gia tăng sức mua và nhu cầu nội địa – tức là gia tăng mức sống của người dân, một yếu tố quan trọng để tăng trưởng bền vững.

Việc duy trì tiền đồng yếu trong lúc đô-la Mỹ mất giá trung bình khoảng 20% so với các ngoại tệ khác trên thế giới chỉ tạo ra những sức hút ngắn hạn cho các nhà đầu tư nước ngoài khai thác lợi thế giá rẻ nhờ bảo hộ tỷ giá của nhà nước. Đầu tư trực tiếp nước ngoài tăng mạnh nhưng đa số là nhập khẩu nhanh những công nghệ lạc hậu vào Việt Nam rồi khai thác nhân công giá rẻ, nguyên liệu rẻ để sản xuất hàng hóa xuất khẩu. Các nhà đầu tư nước ngoài được hưởng lợi lớn, lợi kép nhờ tỷ giá. Những khoản lợi nhuận này được để bên ngoài Việt Nam bằng cách khai tăng giá nhập thiết bị và vật tư phục vụ xuất khẩu (thuế suất nhập khẩu bằng 0 hoặc rất thấp). Giá trị còn lại trong nước chỉ là tiền công và nguyên liệu rẻ mạt, đi kèm với môi trường bị hủy hoại do công nghệ lạc hậu, và sự suy yếu sức cạnh tranh của doanh nghiệp trong nước.

Đã có những cảnh báo về các nguy cơ rối loạn kinh tế lẫn xã hội nếu luồng vốn ngoại không cân đối làm suy yếu nội lực trong nước. Nhưng sự tuyên truyền ầm vang không mệt mỏi của các phương tiện thông tin đại chúng ca ngợi sự tăng trưởng ngoạn mục của đầu tư nước ngoài, tô hồng viễn cảnh sáng sủa của nền kinh tế đã át hẳn những tiếng nói có trách nhiệm. Dân chúng tránh sao được sự ảo tưởng và rơi vào vòng xoáy ma lực. Nhiều đề xuất, khuyến nghị chính phủ cần xem xét lại chính sách thúc đẩy xuất khẩu kiểu này nhưng kết luận cuối cùng là càng phải tăng mạnh xuất khẩu để giảm nhập siêu.

Nhưng sự thật trớ trêu là càng xuất khẩu kiểu đó thì nhập siêu càng lớn. Lý do là sức mua của toàn dân sụt giảm nghiêm trọng do tỷ giá tiền đồng thấp hơn thực tế, mà nhu cầu thì ngày càng tăng lên. Trong khi đó lại hoàn toàn thiếu vắng các chính sách hỗ trợ cho việc đáp ứng các nhu cầu nội địa, biểu thuế suất nhập khẩu hàng ngàn mặt hàng (đặc biệt là nông sản) giảm xuống do gia nhập WTO. Lượng nhập khẩu tăng lên là đương nhiên để đáp ứng các nhu cầu trong nước. Giá nhập khẩu cũng phải tăng mạnh do 2 tác động kép của tỷ giá tiền đồng thấp và giá cả thế giới tăng.

Nhập siêu 2007 phi mã đến 12,5 tỷ đô-la Mỹ (hơn 2,5 lần mức 2006) là vẫn còn may mắn. Nếu dầu thô thế giới không tăng giá để mang thêm về cho Việt Nam gần 2,5 tỷ đô-la Mỹ (40 ngàn tỷ đồng) từ xuất khẩu trong 2007 thì tình hình sẽ còn tồi tệ hơn nhiều. Thế nhưng người dân đã không được hưởng gì từ khoản thặng dư của tài nguyên quốc gia này sau khi chính phủ quyết định cắt bỏ 10 ngàn tỷ đồng bù giá xăng dầu trong nước. Sức mua của người dân bị ép giảm sút nặng nề để tăng lợi thế cho đầu tư nước ngoài và xuất khẩu mà ở đó chỉ một nhóm nhỏ các nhà xuất khẩu, chủ yếu từ nước ngoài hưởng lợi.

Giờ đây khi mà tiền đồng đã mất giá thực sự do lạm phát tiền và nội lực trong nước suy kiệt thì các giải pháp nâng giá tiền đồng lại được thực hiện. Lại một cái bẫy. Quyền lợi lại thuộc về nước ngoài. Đầu tháng 3/2008 ngân hàng Nhà nước mới yêu cầu tăng dự trữ bắt buộc lên thêm 1% (tương đương khoảng 10 ngàn tỷ đồng) và phát hành tín phiếu bắt buộc trị giá 20,3 ngàn tỷ đồng; chỉ hút hơn 30 ngàn tỷ đồng mà đã làm cả hệ thống tài chính ngân hàng điêu đứng, náo loạn đua nâng lãi suất để động viên người dân chuyển đổi ngoại tệ thành tiền đồng gửi vào ngân hàng. Tiền đồng trở nên khan hiếm, đô-la Mỹ bị mất giá.

Người dân lại bị cuốn hút vào một cuộc chơi mới của bầy thú điện tử. Các quỹ đầu cơ này đang cần đổi tiền đồng sang đô-la Mỹ, một tỷ giá đô-la Mỹ thấp sẽ rất có lợi cho họ. Tiền đồng bị siết chặt, biên độ tỷ giá đô-la Mỹ được nới lỏng. Đô-la Mỹ rơi xuống gần 15,5 ngàn đồng/USD nhưng bán cũng không ai mua. Trong tuần thứ ba của tháng 3/2008 này bầy thú điện tử đã tung hơn 30 ngàn tỷ đồng để mua vào khoảng 2 tỷ đô-la Mỹ. Ngay lập tức lạm phát gia tăng thêm 3%, đạt mức kỷ lục 9.2% trong chưa đầy 3 tháng đầu năm 2008. Cùng lúc, các ngân hàng chuẩn bị giảm lãi suất huy động.

Cái vòng xoáy hút – nhồi, tăng lên – giảm xuống sẽ được lặp lại nhiều lần như chứng khoán, đến khi mà bầy thú đã nắm trong tay một lượng lớn đô-la Mỹ thì sức mua của tiền đồng sẽ rơi tự do không phanh. Chỉ số giá tiêu dùng CPI sẽ tăng thêm cỡ 50% nữa, con số này chưa bao gồm những tác động của việc tăng giá đầu vào và sự mất niềm tin của dân chúng. Yếu tố niềm tin này có thể dẫn đến sự sụp đổ không ai có thể lường hết được, nó sẽ vượt quá nhiều lần mọi tính toán kỹ thuật nếu như người dân nhận ra mình đã bị lừa.

Thâu tóm và thôn tính

Nhưng mục tiêu của bầy thú không chỉ đơn giản như vậy. Bây giờ có lẽ chính phủ đã nhận ra được những nguy cơ của lạm phát sẽ tác động khủng khiếp thế nào đến sự bất ổn xã hội. Nếu không muốn cuộc khủng hoảng này bùng nổ ngay trong năm 2008, chính phủ phải thương lượng mua lại khoản tiền đồng khổng lồ của bầy thú. Quá trình thâu tóm đang bắt đầu.

Nhưng tiền đâu để mua khi mà dự trữ ngoại hối của quốc gia quá yếu ớt. Ngay cả có huy động được mọi nguồn lực để có đủ số tiền này thì bầy thú sẽ nói họ không cần đô-la Mỹ vì họ có thể mua nó dễ dàng từ thị trường. Họ muốn quyền kiểm soát các doanh nghiệp Việt Nam, nhất là những tập đoàn được hưởng đặc quyền và đầy lợi thế của nhà nước. Các doanh nghiệp này đã được bảo hộ chặt chẽ trong các điều khoản gia nhập WTO để không chịu sức ép cạnh tranh lớn khi hội nhập. Nhưng giờ đây chúng sẽ được trao quyền kiểm soát chi phối bằng sở hữu đa số thông qua các hiệp định song phương đang được đàm phán vội vã.

Dân chúng đừng vội mừng vì hy vọng vào sự tốt lên của các doanh nghiệp này sau khi có bàn tay của nước ngoài. Kinh nghiệm trên thế giới cho thấy trong một đất nước mà thiếu vắng các chiến lược để tạo ra lợi thế quốc gia trong một hệ thống toàn cầu hóa, và nguồn nhân lực thì thiếu kỹ năng được đào tạo đúng mức, cộng với tham nhũng chi phối các chính sách nhà nước thì bầy thú điện tử sẽ chỉ dùng các doanh nghiệp khổng lồ trong nước được bảo hộ để khai thác thị trường nội địa, buộc người dân phải trả giá cao để có siêu lợi nhuận. Hiệp hội các nhà sản xuất ô-tô (VAMA) vừa vận động nâng thuế nhập khẩu xe hơi để “chống nhập siêu” là một minh chứng cụ thể cho việc đó.

Áp lực đang được gia tăng lên rất mạnh để các điều khoản đảm bảo cho việc thâu tóm dễ dàng đạt được. Bầy thú đang nhả tiếp tiền đồng ra đổi lấy đô-la Mỹ khiến nó lên giá, lạm phát tiếp tục tăng vọt. Trong tình hình này có lẽ những điều kiện cần để thâu tóm sẽ phải hoàn tất trong vòng trên dưới 2 tháng nữa. Từ nay đến đó chứng khoán sẽ tiếp tục hoành hành để gây rối và gia tăng áp lực đàm phán. Đến khi mọi việc được ký kết thì tới lượt bất động sản sẽ được thổi bùng lên, giá trị thật giá trị ảo sẽ lại điên loạn lên một lần nữa – một cuộc chơi mới theo bài cũ. Nó sẽ tạo ra bất ổn đến cuối năm, không chỉ để trục lợi mà còn nhằm lũng đoạn dễ dàng các chính sách vĩ mô để phục vụ cho những kế hoạch tiếp theo.

Nhà nước nếu không cẩn thận thì sẽ bị những kẻ cơ hội tiếp tục thao túng để bơm ra lượng tiền đồng khổng lồ đã thu hồi về nhờ bán rẻ tài sản toàn dân. Trong lúc rối ren, thật giả lẫn lộn thì không khó gì để viện ra những lý do nghe xuôi tai để làm được việc ấy. Lúc đó sẽ không còn gì có thể cứu vãn được nữa. Đó chính là sự kết thúc.

Nhưng đấy cũng là khởi đầu của sự thôn tính.

Cộng sinh trong toàn cầu

Đất nước ta đang thực sự rất nguy kịch, tiến thoái lưỡng nan mà chỉ có sức mạnh của toàn dân mới có thể giúp vượt qua được. Người dân cần được chia sẻ những thông tin thật để lường trước những khó khăn xấu nhất. Người dân cần được tạo niềm tin từ sự chân thật để cùng nhà nước tìm ra những biện pháp thoát hiểm. Từ trước đến nay dân chúng bị cuốn hút vào những cuộc chơi mà mình không những không có được thông tin đầy đủ mà còn bị làm sai lệch.

Trong khi đó bầy thú thì không thiếu bất kỳ thông tin gì nhờ lấy được từ các định chế tài chính quốc tế như ngân hàng Thế giới (WB), quỹ Tiền tệ Quốc tế (IMF). Chính phủ phải cung cấp định kỳ cho họ. Thông tin quốc gia là một loại tài nguyên quốc gia quan trọng hàng đầu, nó càng quan trọng hơn trong thời đại ngày nay. Sự thất bại thuộc phía người dân là tất yếu.

Kinh tế học không phải là môn khoa học tự nhiên như toán học, vật lý. Nó là một khoa học dựa vào hành vi con người và hướng đến con người dù rằng nó dùng các công cụ toán học để mô phỏng và phân tích. Các tính toán lý thuyết kinh tế sẽ không có giá trị gì nếu không gắn nó với việc hiểu ứng xử và động lực của con người.

Không thể điều hành vĩ mô một nền kinh tế thị trường thành công bằng bàn tay hữu hình của chính phủ, vì kinh tế thị trường vốn được vận hành theo qui luật của bàn tay vô hình – cách mà các nhà kinh tế học gọi tên một cơ chế thúc đẩy sự vận động kinh tế thông qua việc tác động vào động lực con người. Thật tiếc là các thế lực bên ngoài đã áp dụng cách này thật nhuần nhuyễn ở Việt Nam.

Chỉ khi nào những người cầm cân nẩy mực hiểu được dân, biết được điểm mạnh của dân, nhìn được điểm yếu của dân, cảm được nỗi đau của dân, hạnh phúc vì niềm vui của dân thì mới có thể xây dựng được những chính sách hợp lòng dân. Còn không thì cho dù là lý thuyết nào đi nữa, được ủng hộ bởi những tổ chức danh giá đến đâu đi nữa, dựa vào mô hình thực tế thành công của thể chế nào đi nữa cũng không thể tránh khỏi sự thất bại.

Trong một đất nước mà sự phát triển dân chủ còn rất nhiều hạn chế, nhà nước ở đó phải thương dân như con thì mới có thể xây dựng một nền kinh tế mạnh, xã hội vững chắc. Đầy tớ mà có trách nhiệm thì thật là hiếm hoi, mà dù có trách nhiệm thế nào thì cũng không bao giờ có tình thương với chủ.

Cái giá của một nền kinh tế trọng ngoại như nước ta sẽ còn những tác hại rất lâu dài. Sẽ không có một thần dược ngoại nào có thể chữa ngay khỏi bệnh. Chỉ có niềm tin của dân, sức mạnh tập hợp của toàn dân trong lẫn ngoài nước mới có thể tạo ra một nội lực đủ sức đề kháng với sự tấn công tiêu cực của ngoại lực, rồi tiến tới trung hòa cộng sinh với nó. Lúc đó đất nước mới có thể phát triển vững bền.

Chỉ khi nào nền kinh tế đất nước hội nhập một cách cộng sinh với hệ thống toàn cầu hóa thì lúc đó mới có thể tránh khỏi những cuộc tấn công như vậy. Người ta không thể đánh vào chính mình. Thật buồn là chúng ta đã tự làm như thế. Hội nhập mà không tạo ra những lợi thế tương hỗ, ràng buộc trong một guồng vận hành khốc liệt của toàn cầu hóa thì không khác gì tự biến mình thành một cái hố hứng rác thải của cái cỗ máy ấy mà thôi.

Tham nhũng và sụp đổ

Hơn lúc nào hết, chính phủ phải nhìn thẳng vào sự thật cho dù nó khắc nghiệt đến mức nào. Khủng hoảng toàn diện một cách trầm trọng là không thể tránh khỏi. Tránh né sự thật, trì kéo mua thời gian bằng cách vay mượn tương lai để tạm qua năm tháng hiện tại sẽ chỉ làm cho nó trầm trọng hơn mà thôi. Sự khốn cùng của dân chúng sẽ càng tồi tệ. Nền kinh tế nước ta từ nhiều năm nay đã tăng trưởng theo kiểu vay mượn tương lai cho thành tích hiện tại. Cuộc khủng hoảng này sẽ là một điểm dừng phải có để chấm dứt cái hệ thống vận hành sai qui luật này.

Trái qui luật nhưng nó vẫn tồn tại một thời gian khá dài chính là nhờ tham nhũng. Tham nhũng tạo ra động lực và bị biến thành công cụ cho một nhóm nhỏ những người cầm quyền và bầy thú điện tử. Quyền tạo ra tiền, tiền biến thành quyền, quyền cần có thành tích để củng cố. Thành tích không thể thật vì tham nhũng nhưng phải được tuyên truyền và thổi phồng làm người dân ảo tưởng, chấp nhận chịu đựng vì hy vọng vào những tương lai tốt đẹp mà chính quyền hứa hẹn. Nhưng niềm tin không thể được xây dựng trên những gì giả tạo. Trong sấm Trạng Trình có câu:

Phú quí hồng trần mộng

Bần cùng bạch phát sinh

Thật đúng với thời cuộc. Sự giàu có (phú quí) ở những nơi đô thị (hồng trần) chỉ là ảo (mộng). Đến khi dân chúng rơi vào nghèo khổ cùng cực (bần cùng) thì sự thật (bạch) sẽ phơi bày (phát sinh). Sự sụp đổ niềm tin có sức tàn phá khủng khiếp. Nếu nó không được dẫn dắt bằng lòng nhân ái và quyền lợi dân tộc thì sức mạnh đó sẽ bị lợi dụng cho mục tiêu chính trị ngược lại.

Nên nhớ rằng cuộc khủng hoảng đang xảy ra nhanh chóng vì đã có một sự phá vỡ cái thế cân bằng ảo. Đất nước không được xây dựng để cộng sinh trong hệ thống toàn cầu hóa, nhưng lại hình thành sự cộng sinh giữa những kẻ tham nhũng, cơ hội trong chính quyền với bầy thú điện tử để chi phối các hoạt động xuyên suốt của đất nước mà nhiều người lầm tưởng là sự ổn định. Nhưng giờ đây bầy thú không thể bỏ qua thời cơ tuyệt vời để có nhiều quyền lợi hơn và đứng lên trên cái hệ thống cộng sinh đó. Sự cân bằng bị phá vỡ vì thế.

Sức dân và mệnh nước

Toàn dân cần được chuẩn bị để đối phó với cuộc khủng hoảng mà đỉnh điểm của nó sẽ rơi vào năm sau – Kỷ Sửu 2009. Tất cả những gì nhà nước cần tập trung lúc này là HẬU SỨC DÂN. Làm sao phải gia tăng sức mạnh vật chất lẫn tinh thần cho dân đủ sức chịu đựng khó khăn để vượt qua và xoay chuyển tình thế. Bổ sung sức mạnh vật chất là cần thiết nhưng trong điều kiện hiện nay thì không thể đủ mạnh. Chỉ có sức mạnh của niềm tin và sự đồng lòng mới có thể tạo ra vận thế mới.

Chính phủ đang kêu gọi dân chúng thắt lưng buộc bụng và đề ra các giải pháp “chống lạm phát, ổn định kinh tế vĩ mô” như vừa rồi thì không thể hậu sức dân. Chỉ đơn cử việc giảm đầu tư công. Các bộ ngành, địa phương đang bàn về cắt giảm ngân sách đầu tư bằng việc cắt bớt các dự án. Giảm đầu tư trong nước tức là giảm nội lực. Cấu trúc hiện nay của nền kinh tế đang phụ thuộc rất lớn vào đầu tư công vì nó chiếm đến 40% tổng đầu tư quốc gia. Trong khi mà chưa có những cơ chế, chính sách để cho phép và hỗ trợ khu vực dân doanh đầu tư thay thế nhà nước thì việc rút giảm đầu tư công sẽ tạo ra một khoảng trống cực kỳ tai hại.

Toàn dân vẫn cần những đầu tư ấy để tạo ra hạ tầng, công ăn việc làm – những thứ mà Việt Nam còn thiếu thốn nhiều một thời gian dài nữa. Việc chính phủ cần làm là đảm bảo hiệu quả đầu tư công, hay nói theo kinh tế học là giảm chỉ số ICOR xuống. Thống kê chỉ số này của nhà nước cho thấy ICOR của đầu tư công là 8 (tức đầu tư đến 8 đồng mới làm ra thêm 1 đồng tăng trưởng). Đầu năm 2007, một thành viên của chính phủ trả lời trước công chúng giải thích rằng chỉ số này cao vì năng suất lao động của đất nước còn thấp.

Nhưng không thấy có ai hỏi tiếp rằng tại sao cùng với những người lao động Việt Nam mà khu vực dân doanh, dù trình độ quản lý cũng chưa hiện đại nhưng chỉ số này chỉ có 4 (chỉ cần 4 đồng đầu tư sẽ tạo ra 1 đồng tăng trưởng), của khu vực nước ngoài là 2.7. Không hỏi vì ai cũng biết rằng hiệu quả đầu tư công thấp là do tham nhũng.

Chỉ cần làm được như khu vực dân doanh thì cùng một dự án đầu tư nhà nước có thể giảm được một nửa số vốn bỏ ra mà dân chúng vẫn được hưởng thành quả không đổi. Một nửa ấy từ trước đến nay do tham nhũng mà thất thoát. Theo kế hoạch 5 năm từ 2006 – 2010, mỗi năm đầu tư công lên đến 270 ngàn tỷ đồng, một nửa số tiền đó mà tiết kiệm được và dùng để hậu sức dân thì thật là có ý nghĩa. Còn nếu cắt giảm theo kiểu số lượng thì chỉ gia tăng sức mạnh cho những kẻ tham nhũng, cơ hội. Lạm phát sẽ càng tăng dù trị giá đầu tư có giảm. Hiện nay đã bắt đầu xuất hiện tình trạng chạy để được giữ lại các dự án. “Mạnh vì gạo”, ai chi nhiều hơn thì sẽ được tiếp tục đầu tư, tỷ lệ thất thoát sẽ càng gia tăng, chất lượng đầu tư càng giảm, lạm phát càng tăng là vì thế. Dân sẽ vẫn lãnh đủ.

Giải pháp hiệu quả nhất hiện nay thật đơn giản mà không đơn giản: triệt tiêu tham nhũng. Làm được việc này thì sẽ gia tăng nguồn lực cho dân, củng cố niềm tin của dân. Chính là hậu sức dân. Nhưng điều này thật quá khó cho chính quyền hiện nay khi mà luật pháp trong nước bị bóp méo bởi những kẻ tham nhũng – cơ hội, và những định chế quốc tế bị chi phối bởi bầy thú điện tử. Một kẻ như Bùi Tiến Dũng lại được ngân hàng Thế giới (World Bank) tại Việt Nam khẳng định là không có dấu hiệu tham nhũng để rộng đường cho một phiên tòa chỉ xử tội đánh bạc. Nguyễn Việt Tiến cũng vừa được thả ra và phục hồi quyền lợi mà không qua xét xử. Cái hệ thống cộng sinh này là như thế đấy.

Chính phủ thực hiện các giải pháp vĩ mô như hiện nay sẽ tiếp tục hậu ngoại lực, ép nội lực dù vô tình hay hữu ý. Càng nhiều bàn tay hữu hình thò ra thì càng dễ bị giật dây điều khiển. Chưa hết tháng 3/2008 mà nhập siêu đã phi đến 7 tỷ đô-la Mỹ, bằng 56% của cả năm 2007, vượt xa con số 4,8 tỷ của 2006. Ấy vậy mà nhận định mới nhất của chính phủ trước thường vụ Quốc hội là vẫn tin tưởng cân đối được cán cân thanh toán quốc tế do Việt Nam vẫn đang là điểm sáng của thu hút đầu tư nước ngoài.

Sao vẫn tiếp tục trông chờ vào ngoại lực mà không nhìn nhận thực tế là đất nước này đang còn cầm cự được phần nào trước sự thâm hụt mậu dịch lâu nay là nhờ vào kiều hối 2 tỷ đô-la Mỹ của gần nửa triệu lao động Việt đang phải chịu cực khổ, tủi nhục, cả bỏ mạng ở nước ngoài, 5 tỷ đô-la Mỹ của hơn 3 triệu đồng bào Việt định cư ngoài nước gửi về hàng năm mà không kèm bất kỳ điều kiện và đòi hỏi nào; nhờ vào tiền công lao động rẻ mạt của hàng triệu lao động nghèo trong nước còn giữ lại được từ xuất khẩu; và của hàng chục triệu nông dân bán mặt cho đất bán lưng cho trời làm ra những nông sản để xuất khẩu. Không hề thấy chính phủ phân tích và đề cập đến việc chăm sóc các nguồn lực này như thế nào trong các giải pháp hiện nay và trước đây.

Những người lao động nghèo này chính là lực lượng tiên phong phải đương đầu trước tiên với cạnh tranh toàn cầu, ngay khi Việt Nam gia nhập WTO trong khi chưa hề được chuẩn bị những kiến thức và kỹ năng cần thiết. Họ chẳng hiểu toàn cầu hóa là gì nhưng các cam kết để gia nhập WTO đã dỡ bỏ ngay lập tức trợ cấp xuất khẩu nông sản và hàng dệt may; giảm ngay xuống mức thấp thuế suất nhập khẩu các mặt hàng nông sản, may mặc.

Trong khi đó, các doanh nghiệp nhà nước đang kiểm soát hoàn toàn các ngành dịch vụ tài chính – ngân hàng, bưu chính – viễn thông, năng lượng – dầu khí được nuôi dưỡng và hưởng đặc quyền lâu nay, nắm giữ những nguồn lực lớn nhất của quốc gia thì vẫn tiếp tục được bảo hộ theo lộ trình từng bước 3 năm, 5 năm sau khi gia nhập WTO. Tiềm năng phát triển rất lớn của thị trường nội địa trong các lĩnh vực này, thay vì phải được dùng làm hậu phương vững chắc để tiến công ra thị trường toàn cầu, làm lực lượng tiên phong bước ra cạnh tranh để giảm áp lực cho những nông dân, công nhân may mặc cần thời gian để hiểu và chuẩn bị cho hội nhập, thì lại được quây rào để dành cho bầy thú điện tử thâu tóm.

Chuyện này khác gì trong một cuộc chiến, những người dân đen cùng đinh bị đưa ra trước để làm bia đỡ đạn trong khi quân chủ lực vẫn đang còn say sưa chè chén. Đến khi giặc vào tới thì hèn nhát, không phải là bỏ chạy mà là đầu hàng bán rẻ đồng đội. Thế nhưng những kết quả đạt được trong đàm phán WTO được ca ngợi là thành công, là ngoạn mục. Có thể dễ dàng đọc được trên các website của các bộ ngành để nghe họ khen tặng, tâng bốc về cái thành quả này như thế nào.

Hội nhập toàn cầu là một quá trình phải được bắt đầu một cách chủ động từ trước khi ký kết hiệp định quốc tế. Sự thụ động và chạy theo thành tích thì tránh sao khỏi rơi vào những cái bẫy đàm phán. Người ta không cần nhưng vẫn khăng khẳng đòi mở cửa xuất bản ngay. Còn ta thì châm châm bảo vệ sự kiểm soát nó tuyệt đối bằng mọi giá mà không hiểu rằng internet đã thay đổi mọi thứ. Nếu anh muốn giữ chặt cái này thì anh phải nhả cho tôi ngay cái khác: hoặc là nông sản và dệt may; hoặc là các dịch vụ tài chính – ngân hàng, bưu chính – viễn thông, năng lượng – dầu khí. Họ muốn ta nhả cái thứ nhất để tạo bất ổn xã hội, mục tiêu lớn như vậy mà chẳng phải vất vả gì để đạt được. Họ thừa biết các nhóm lợi ích trong các lĩnh vực dịch vụ này dư sức chi phối các quyết định đàm phán cuối cùng.

Đừng nghĩ là chính quyền kiểm soát báo chí, tuyên truyền mà dân chúng không đủ hiểu biết để nhìn ra những vấn đề quá lớn mà các chính sách vĩ mô đã tạo ra cho họ. Người dân thậm chí còn bảo rằng chẳng phải nhà nước mắc bẫy, chẳng qua vì quyền lợi cá nhân mà nhà nước đưa dân vào hoàn cảnh như ngày hôm nay. Luật thuế thu nhập cá nhân sắp có hiệu lực từ đầu năm sau sẽ là một giọt nước tràn ly đối với lòng dân.

So sánh chiến lược về lợi thế cạnh tranh giữa các quốc gia thì bộ luật này, với mức khởi đầu là 5% cho thu nhập 4 triệu đồng/tháng và 35% cho phần thu nhập từ 80 triệu đồng/tháng trở lên, đã đặt Việt Nam vào một quốc gia có tương lai dựa trên lao động giá rẻ thiếu kỹ năng, chứ không phải một nơi nuôi dưỡng chăm sóc cho con người có đủ tri thức để làm nền tảng phát triển vững chắc của đất nước. Chắc chắn rất nhiều nước đã vỗ tay vui mừng bộ luật này. Lại mắc bẫy hay do thiếu hiểu biết, người dân tự sẽ nhận ra và phán xét.

Không củng cố niềm tin thì hậu quả thật khó lường hết bằng các con số. Các tính toán kỹ thuật cho thấy khả năng tiền đồng sẽ nhanh chóng chỉ còn hơn 20 ngàn/USD. Nhưng một khi người dân không còn niềm tin gì vào nhà nước thì con số này có thể là 30 ngàn, 40 ngàn hay cao tới mức mà không ai có thể dự báo nỗi. Nó cũng không khác gì việc đáy chứng khoán được dự báo không biết bao nhiêu lần. Mức trên dưới 500 điểm như hiện nay vẫn chưa phải là đáy. Còn xa mới tới đáy vì bầy thú không chỉ muốn thâu tóm, mà là thâu tóm rất rẻ để dồn tiền cho sự thôn tính chính trị.

Vận nước đang đứng trước một bước ngoặt lịch sử. Đây là một biến cố lớn sẽ chắc chắn tạo ra sự xoay chuyển. Con tạo xoay vần, nhưng xoay về đâu, đó là trách nhiệm của tầng lớp trí thức của đất nước. Những con Lạc cháu Hồng ưu tú sẽ tập hợp lại tạo nên sức mạnh của cả dân tộc thuộc mọi tầng lớp để hóa giải thế cờ, xoay chuyển biến cố thành một vận hội mới.

Có một Con đường như vậy.

“Quốc gia hưng vong, thất phu hữu trách”. Trong họa có phúc.

Trần Đông Chấn

Mùa xuân tháng 3, 2008.