Opening Cà Phê Tí Tách's Blog

Saturday, 29 March 2008

Mặt trận im thin thít!

"Trên bản đồ thế giới, hình thể đất nước ta như hình ảnh người nông dân đội nón trên đầu, đang oằn mình dưới sức nặng của khối Trung Hoa lục địa... "

Phát biểu của GS Tương Lai tại
Hội nghị Ủy Ban Trung Ương
Mặt Trận Tổ Quốc Việt Nam
(GS Tương Lai, một nhà trí thức tên tuổi, nguyên Viện trưởng Viện Xã hội học VN)

Cũng như mọi năm, tại Hội nghị Ủy ban trung ương MTTQVN lần này, tôi xin được phát biểu ý kiến, và lần này tôi xin nêu ý kiến về hai vấn đề.

Vấn đề thứ nhất: diễn đàn của Mặt trận là một diễn đàn rộng rãi nhất, cởi mở nhất của nước ta hiện nay. Tại đây, làm sao qui tụ được trí tuệ, ý chí, nguyện vọng của mọi tầng lớp nhân dân, thiết tha với vận mệnh dân tộc, không phân biệt quá khứ, tôn giáo tín ngưỡng, ý thức hệ, là đòi hỏi của đất nước trong giai đoạn lịch sử mới. Những ý kiến đó có thể trái tai với những cá nhân nào đó, cho dù đang ở cương vị nào, nhưng miễn là ý kiến ấy xuất phát từ một động cơ trong sáng vì nước, vì dân thì rất cần khuyến khích phát biểu. Có như vậy thì Mặt trận mới thực hiện chức năng cao cả của nó là một tổ chức chính trị rộng lớn nhất, đại diện cho ý chí và nguyện vọng của mọi tầng lớp nhân dân trong và ngoài nước, chứ không chỉ là một tổ chức hoạt động từ thiện, xóa đói giảm nghèo, mặc dầu hoạt động này trong thời gian qua đã có đóng góp rất lớn và thiết thực, cần được tiếp tục phát huy.

Văn kiện Đại hội X của Đảng cộng sản Việt Nam đã ghi rõ: "Ở đâu có dân chủ, ở đó có đoàn kết, đồng thuận và phát triển" ( tr.344). Tạo điều kiện, tạo môi trường để phát huy dân chủ thực sự phải là một chức năng chủ yếu của Mặt trận, đặc biệt là trong giai đoạn hiện nay, khi mà tiến trình phát triển đất nước và hội nhập quốc tế đi vào chiều sâu, đòi hỏi phải quy tụ được sức mạnh của toàn dân tộc, trước hết là sức mạnh trí tuệ của người Việt nam, tạo nên được một sự đồng thuận mới, là một nhu cầu của chính sự phát triển và hội nhập ấy. Muốn quy tụ được hiền tài để cùng nhau gánh vác sự nghiệp của đất nước thì phải thật lòng đoàn kết. Có thật lòng đoàn kết mới có dân chủ thực sự. Chất lượng của khối đại đoàn kết dân tộc được nâng cao đến đâu thì việc thực hành dân chủ tiến triển được đến đó. Sức nam châm có lực hút hiền tài là thái độ chân thành thật lòng đoàn kết được thể hiện rõ ràng gắn liền với độ rộng mở của dân chủ thực sự trong việc tạo ra môi trường thuận lợi để cho những tài năng thật sự có thể phát huy. Đúng là "phải thật sự công tâm, khách quan và đặc biệt là phải thực sự dân chủ; vì không dân chủ, hay chỉ dân chủ hình thức thì không chọn được người tài" như sự khẳng định của người đứng đầu Chính phủ trong cuộc đối thoại trực tuyến đầu năm ngoái.

Khi vị thế của Việt Nam đang được nâng cao, thì năng lực và kinh nghiệm để đảm trách những hoạt động quốc tế, trên thương trường cũng như trên chính trường, là những đòi hỏi bức xúc. Để đáp ứng đòi hỏi đó thì việc thật lòng đoàn kết và thực sự dân chủ là điều kiện tiên quyết để mời gọi những hiền tài, những chuyên gia giỏi trong và ngoài nước, tự nguyện tham gia cùng gánh vác công việc khó khăn đó. Người làm công tác Mặt trận phải thấu triệt vai trò lớn lao quy tụ hiền tài của tổ chức chính trị lớn nhất trong hệ thống chính trị của cả nước. Để làm được điều đó, người làm công tác Mặt trận phải có chính tâm và có hiểu biết.

Về chính tâm, xin dẫn lời người xưa. Sách Luận ngữ, thiên Nhan Uyên có chép chuyện Quý Khang tử hỏi Khổng Tử về chính trị. Khổng Tử đáp: "Chính trị là chính đính. Ông cai trị dân một cách chính đính thì ai dám không chính đính". Trả lời Ai Công về cách cai trị để dân nghe theo, Khổng Tử chỉ nói một điều: "Đề cử người ngay thẳng lên trên người cong queo thì dân phục tùng, đề cử người cong queo lên trên người ngay thẳng thì dân bất phục". Mà để làm được điều đó thì ngoài sự chính tâm, cần phải có hiếu biết.

Câu nói nổi tiếng của Khổng Tử về sự hiểu biết và cách học để có sự hiểu biết đó là một đúc kết có giá trị vĩnh cữu. Giá trị vĩnh cửu ấy càng tăng thêm trong điều kiện của thời đại kinh tế tri thức và nền văn minh trí tuệ của thế kỷ XXI: "Tri chi vi tri chi, bất tri vi bất tri, thị tri dã". Biết điều gì thì nhận là biết, không biết thì nhận không biết, như vậy chính là biết.

Trong nhận thức của tôi, qua mấy nhiệm kỳ tham gia vào UBTƯMTTQ từ năm 1983 đến nay, tôi nghiệm ra rằng, làm công tác Mặt trận vừa rất dễ, vừa rất khó. Dễ thì như loại tôi, mỗi năm cố gắng suy nghĩ để có được một bài phát biểu và rồi xuân thu nhị kỳ có đôi lần họp Hội đồng tư vấn. Hoặc như một số cán bộ chuyên trách làm nhiệm vụ như các cán bộ, viên chức của bất cứ cơ quan Nhà nước nào. Nhưng khó, cực khó là làm sao để cho công tác Mặt trận thực sự là công tác vận động tri thức, nhân sĩ và các tầng lớp nhân dân kết thành khối đại đoàn kết dân tộc, đoàn kết thật lòng để cùng nhau xây dựng và bảo vệ đất nước. Người cán bộ Mặt trận phải có sức thu hút và thuyết phục mọi người, trước hết là những người tiêu biểu cho khối đại đoàn kết dân tộc. Và đấy cũng là kỳ vọng của chúng tôi đối với Mặt trận.

Vấn đề thứ hai: Mặt trận phải là nơi khơi động và phát huy tinh thần yêu nước của mọi tầng lớp nhân dân ta. Chủ tịch Hồ Chí Minh từng khẳng định đó là một truyền thống quý báu của nhân dân ta. Từ xưa đến nay, mỗi khi Tổ quốc bị xâm lăng, thì tinh thần ấy lại sôi nổi, nó kết thành một làn sóng mạnh mẽ, to lớn, nó lướt qua mọi sự nguy hiểm, khó khăn, nó nhấn chìm tất cả lũ bán nước và lũ cướp nước. Cụ Hồ chỉ rõ: "Tinh thần yêu nước, cũng như các thứ của quý, có khi được trưng bày trong tủ kính, trong bình pha lê, rõ ràng dễ thấy. Nhưng cũng có khi cất giấu kín đáo trong rương, trong hòm. Bổn phận của chúng ta là làm cho những của quý kín đáo ấy đều được đưa ra trưng bày…"

"Chúng ta" đây là ai? Là Đảng, là Mặt trận. Đặc biệt là Mặt trận. Chính vì thế, tôi rất băn khoăn thắc mắc và hôm nay, trên diễn đàn rộng lớn và hợp pháp này, muốn nói to lên thắc mắc băn khoăn đó để mong được giải đáp.

Ở thành phố Hồ Chí Minh, chỉ theo dõi được qua báo chí và mạng internet, tôi hết sức lạ là tại sao Mặt trận Tổ quốc Việt nam chúng ta không có bất cứ một tiếng nói, một động thái nào trong vấn đề Hoàng Sa và Trường Sa." Mỗi khi Tổ quốc bị xâm lăng", như lời cụ Hồ vừa dẫn ra ở trên, đáng lý Mặt trận Tổ quốc, kế tục truyền thống của Hội nghị Diên Hồng đời Trần, truyền thống của Mặt trận Việt Minh, Mặt trận Dân tộc Giải phóng,…, phải làm sống lại tinh thần bất khuất, quật cường khắc trên cánh tay hai chữ "sát thát", làm cho tinh thần yêu nước kết thành một làn sóng vô cùng mạnh mẽ, to lớn. Đằng này Mặt trận tuyệt đối im lặng. Thật là lạ. Một chuyện xảy ra tận Cuba bên kia bán cầu, Mặt trận đã có ngay lời tuyên bố đanh thép. Thế mà, Hoàng Sa, Trường Sa máu thịt của Tổ quốc bị người ta mưu toan lấn chiếm, biến thành quận huyện của của họ, thì Mặt trận lại im thin thít. Vì sao? Mặt trận Tổ quốc có còn kế thừa truyền thống của Mặt trận Việt Minh, Mặt trận Dân tộc Giải phóng nữa không?

Trong một bài báo viết nhân dịp này, tôi dẫn ra chỉ dụ của vua Lê Thánh Tông nhắn nhủ "bọn thái bảo Kiến Dương bá Lê Cảnh Huy": "Một thước núi, một tấc sông của ta, lẽ nào lại có thể vứt bỏ? Ngươi phải kiên quyết tranh biện, chớ cho họ lấn dần. Nếu họ không nghe, còn có thể sai sứ sang phương Bắc trình bày rõ điều ngay lẽ gian. Nếu ngươi dám đem một thước, một tấc đất của Thái tổ làm mồi cho giặc, thì phải tội tru di", chép rõ ràng trong Đại Việt sử ký toàn thư, Bản kỷ thực lục, Kỷ Nhà Lê, bị tòa soạn cắt mất. Thậm chí cắt cả câu nói của Chủ tịch Hồ Chí Minh tôi dẫn ra ở trên. Tôi hỏi, Tòa soạn trả lời là có sự chỉ đạo buộc họ phải làm như vậy mặc dầu họ không muốn.

Ai mà chỉ đạo lạ vậy. Họ có còn là con cháu của Trần Hưng Đạo, Lê Lợi, Nguyễn Trãi, Quang Trung. Hồ Chí Minh nữa không? Sao lại ngăn chặn tinh thần yêu nước của nhân dân, của thanh niên, sinh viên? Liệu Mặt trận có tham gia vào sự chỉ đạo này không? Người của tòa báo nọ giải thích với tôi, đây là sự tế nhị ngoại giao. Có thể có chuyện đó. Hoạt động ngoại giao đòi hỏi sự tế nhị, chuyện đó tôi không dám bàn. Nhưng để cho nhà ngoại giao tế nhị, thì nhân dân lại phải biểu tỏ ý chí của mình để làm hậu thuẫn cho nhà ngoại giao.

Từng tấc đất của Tổ quốc thẫm đẫm máu Việt nam không thể nào để bị cướp mất, trong đó có những tấc đất Hoàng Sa, Trường Sa. Một bà bán rau ngoài chợ hỏi một cách hồn nhiên khiến người đang cầm mớ rau ngỡ ngàng đến sững sờ: "Làm cách nào để biểu tỏ lòng yêu nước đây hở ông, con tôi nó hỏi tôi thế, liệu yêu nước có bị nhắc nhở không". Bác lái taxi hỏi một câu bâng quơ mà khiến người ngồi trên xe hiểu rằng ông ta hỏi mình, cổ cứ tắc nghẹn, lúng túng không nói được ra lời, cho dù là một lời tạ lỗi "thế là mình đành để mất hở ông, làm sao có chuyện đó được, phải dấn mạnh lên thì chúng nó mới chịu lùi chứ". Một ông già dừng xe cạnh tấm biển chỉ tên đường Lê Duẩn, con đường chạy thẳng vào dinh Thống Nhất, nói nhỏ nhẹ với những người đứng cạnh, "thế mới biết ông cha mình giỏi thật, bao nhiêu năm kiên cường giữ nước trong cái thế cái lực kém xa bây giờ". Ông già am hiểu lịch sử ấy nhắc đến việc ông vừa đọc được trên một tờ báo tuần trước câu chuyện một người nước ngoài miêu tả rất thú vị về nước Việt Nam mình: trên bản đồ thế giới hình thể đất nước trông giống như một người nông dân đội nón ở trên đầu, oằn mình dưới sức nặng của cả khối lục địa Trung Hoa từ trên nén xuống khiến cái lưng của Việt nam phải uốn cong để đủ sức chịu đựng lâu dài, và cũng nhằm dồn lực để bật dậy khi cần thiết. Đó là dáng uốn cong của cánh cung để tạo ra sức bật. Và trước khi đạp xe đi tiếp, ông buông một câu: ý dân là ý trời!

Để có Hiệp định Genève 1954, phải có 09 năm kháng chiến và chiến thắng Điện Biên Phủ 7.5.1954. Để có Hiệp định Paris 1973, lại phải có "Điện Biên Phủ trên không" từ ngày 18 đến ngày 29.12.1972. Trước đó 5 năm, cũng vào tháng 12 năm 1967, sau khi nghe báo cáo của Tư lệnh Phòng không-Không quân, Bác nói: "Sớm muộn rồi đế quốc Mỹ cũng sẽ đưa B52 ra đánh Hà nội, rồi có thua mới chịu thua…Nó chỉ chịu thua sau khi thua trên vùng trời Hà nội. Vì vậy nhiệm vụ của các chú rất nặng nề". Và rồi hiện thực lịch sử đã minh chứng cho lời "tiên tri" Bác Hồ. Trong lời "tiên tri" đó, ẩn chứa một nhận định mang tính qui luật: "Chỉ có thể đàm phán khi có thực lực được hậu thuẫn bởi ý chí và sức mạnh được khởi động từ nhân dân”. Và điều này đâu phải là sự khám phá của thế kỷ XX.

Lần mở lịch sử, thấy có sự trùng hợp rất thú vị về "Hội thề Đông Quan" cũng diễn ra vào tháng 12, ngày 10.12.1427, cách nay đúng 580 năm. Hội thề Đông Quan bên bờ sông Nhị đó đã mở đường cho Vương Thông rút quân. Sách Đại Việt sử ký toàn thư chép lời Lê Lợi: "Không thích giết người là bản tâm của bậc nhân đức. Vả lại, người ta đã hàng mà mình giết thì là điềm xấu không gì lớn bằng…chi bằng tha mạng sống cho ức vạn, để dập tắt mối chiến tranh cho đời sau, sử xanh ghi chép, tiếng thơm muôn đời, há chẳng lớn lao sao". Những lời tâm huyết đó chỉ có thể trên cái nền của những chiến công chói lọi mà Nguyễn Trãi đã viết trong "Cáo bình Ngô": "Lấy đại nghĩa thắng hung tàn, Lấy chí nhân thay cường bạo. Trận Bồ Đằng sấm vang chớp giật, Miền Trà Lân trúc chẻ tro bay…Voi uống cạn sông, gươm mài vẹt núi. Đánh một trận sạch không kình ngạc, Đánh hai trận tan tác chim muông…Lạng Giang, Lạng Sơn thây chất đầy đường, Xương Giang, Bình Than máu trôi đỏ nước".

"Là bản tâm của bậc nhân đức", đồng thời cũng là những ứng xử phù hợp với thực tế lịch sử, xuất phát từ vị thế địa-chính trị của đất nước mà cách diễn tả của người bạn nước ngoài về hình dáng của đất nước này trên bản đồ thế giới nêu trên đã giải thích điều ấy. Trong vị thế địa-chính trị ấy, bản lĩnh để tồn tại và phát triển đòi hỏi phải biết học bài học của ông cha, cùng với cái đó, phải biết khai thác những nhân tố mới, rất mới mà thời ông cha ta chưa có.

Lịch sử tồn tại và phát triển của một Việt Nam đất không rộng, người không đông, song với ý chí quật cường, dân tộc này vẫn kiên cường tồn tại. Mà vào buổi ấy, Việt Nam đơn thương, độc mã. Còn ngày nay, Việt Nam là một bộ phận của thế giới, là thành viên của khối ASEAN năng động và ngày càng đóng một vai trò quan trọng trong đời sống quốc tế, là thành viên của WTO, là ủy viên không thường trực của Hội đồng Bảo an LHQ, Việt Nam không hề đơn độc. Chúng ta hiểu mình cần làm gì và phải làm như thế nào để thực hiện nghĩa vụ thiêng liêng bảo vệ độc lập dân tộc, toàn vẹn lãnh thổ, góp phần tích cực gìn giữ hòa bình ở khu vực và thế giới. Trong bối cảnh đó, thực lực của ta không đơn thuần chỉ là sức mạnh kinh tế, quân sự, mà là cái thế chiến lược ta phải khéo vận dụng. Từ thế kỷ XIII, rồi thế kỷ XV, thế kỷ XVII, đơn thương độc mã, ông cha ta đã đánh tan tác thế lực ngoại xâm, không để mất một thước núi, một tấc sông, để lại giang sơn gấm vóc cho chúng ta hôm nay. Lẽ nào, trong thế giới của thế kỷ XXI này, chúng ta lại không biết tận dụng sức mạnh của thời đại để giữ gìn sự toàn vẹn lãnh thổ mà mỗi tấc đất đều thấm đẫm máu ông cha. Máu Việt nam cũng đã đổ ở Hoàng Sa, Trường Sa, mỗi người Việt nam hôm nay không quên điều đó.

May mắn thay, báo Thanh Niên, báo Người đại biểu Nhân dân, tiếng nói đại biểu Quốc hội và Hội đồng nhân dân đăng, tạp chí Tia Sáng đăng. Và rồi gần đây, đọc báo Thanh Niên, báo Tuổi Trẻ, tạp chí Xưa và Nay, báo Đại đoàn kết, tôi thấy đã có rất nhiều bài nói về Hoàng Sa, Trường Sa. Chắc là đã có sự chỉ đạo mới. Tuy vậy, là người của Mặt trận, tôi vẫn nghĩ là tờ báo của Mặt trận ta chưa có tiếng nói đúng tầm về chủ đề quan trọng và nhạy cảm này. Liệu có phải vì điều mà tôi tạm diễn đạt là "hội chứng kiểm điểm để kỷ luật" TBT báo do đăng bức thư của Đại tướng Võ Nguyên Giáp gửi các nhà lãnh đạo về quyết định đập bỏ Hội trường Ba Đình lịch sử, nơi ghi đậm dấu ấn những sự kiện lịch sử liên quan đến Chủ tịch Hồ Chí Minh và các đồng chí lãnh đạo khác, nơi thể hiện ý chí và sức mạnh của quân và dân ta trong sự nghiệp chống Mỹ cứu nước, giải phóng Miền Nam, thống nhất đất nước không?

Kể cũng lạ, tiếng nói tâm huyết của một vị "khai quốc công thần" mà tên tuổi của ông đã đi vào lịch sử, không chỉ của Việt Nam còn là của thế giới, mà còn bị bưng bít đến như thế thì liệu làm sao để kêu gọi, động viên nhân dân phát huy tinh thần làm chủ, tham gia đóng góp ý kiến với đường lối chính sách của Đảng và pháp luật của Nhà nước mà nghị quyết của Đại hội Đảng cộng sản Việt lần thứ X ghi rõ "không những là quyền mà còn là trách nhiệm" của mỗi công dân yêu nước.

Tờ báo của Mặt trận, vì đạo lý dân tộc, vì sứ mệnh của người làm báo mà đến xin phép Đại tướng để đăng bức thư đó lại được chỉ đạo, phải kiểm điểm và kỷ luật. Rất may là Đảng đoàn Mặt trận đã xử lý việc này một cách đúng đắn. Tại diễn đàn này, với tư cách là một ủy viên UBTƯMTTQVN, tôi xin chân thành bày tỏ lời hoan nghênh Báo Đại Đoàn Kết, điều tôi đã có dịp viết trong bài "Một việc đáng trân trọng" đăng trên tờ báo Pháp luật TP HCM ngày 6.12.2007. Xin chân thành cám ơn và hoan nghênh đồng chí Chủ tịch Phạm Thế Duyệt và các vị lãnh đạo khác của Mặt trận đã có sự xử lý thỏa đáng việc này.

Xin chân thành cám ơn đã cho tôi phát biểu ý kiến thẳng thắn mà không bị cắt giữa chừng, xin cám ơn các cụ và các vị đã chịu khó nghe.

Friday, 21 March 2008

Cơn ác mộng trước thềm Olympic

Jürgen Kremb

Tây Tạng: Dải Gaza của Trung Quốc

Trần Kh. dịch


Những gì xảy ra trên đường phố của Lhasa không phải là sản phẩm của "những kẻ đòi ly khai", mà là hệ quả của một chính sách lầm lạc. Nếu Trung Quốc còn muốn cứu vãn kỳ Thế vận hội sắp đến thì không thể cứ tiếp tục tuyên truyền kiểu cộng sản, mà phải bằng đối thoại. Đức Đạt Lai Lạt Ma hiển nhiên là một đối tác thích hợp hơn cho việc này, chứ không phải là những nhóm thanh niên Tây Tạng sẵn sàng bạo động.

Xe tăng trên đường phố Lhasa, những chiếc ô tô bốc cháy trên "mái nhà của thế giới" và hàng ngàn quân lính với những nòng súng sẵn sàng nhả đạn tìm cách tái lập sự yên bình bằng bạo lực của khí giới, cứ như thể Trung Quốc đã biến thành một nước "cộng hoà chuối" (banana republic) đang trên đà đổ sụp. Thêm vào đó là một số người bị thiệt mạng còn chưa được xác định ở cả hai phía. Đấy hẳn nhiên không phải là hình ảnh một Trung Quốc đang nổi lên như một tân cường quốc kinh tế mà Bắc Kinh đang muốn trình ra với thế giới trước kỳ Thế vận hội 2008, sự kiện được họ xem như là một lễ hội của thế kỷ.

Không, đấy quả là một cơn ác mộng. Trước nhất là cho những con người đang sống ở đấy, trong những ngày sắp tới, họ phải tính đến chuyện có thể rồi sẽ bị lôi ra khỏi nhà, sẽ phải nhận lãnh những bản án xấu nhất cũng như những đòn thù tra tấn. Chẳng còn ai nghĩ rằng chính quyền Bắc Kinh muốn tôn trọng nhân quyền trước kỳ Thế vận hội.

Trước khi ngọn đuốc Olympic được truyền đi trên đường phố Lhasa và theo dự định, sẽ còn được đốt lên trên đỉnh Everest vào quãng cuối tháng Tư, đầu tháng Năm, thì có lẽ các thẩm phán Trung Quốc đã tuyên đọc xong những bản án tử hình đầu tiên cho một số người tham gia các cuộc biểu tình.

Và đối với những viên chức thuộc ban Tổ chức Thế vận hội cũng như các chính trị gia Trung Quốc, những kẻ rất mong muốn được tắm mình trong vinh quang và hào quang toả chiếu từ những cuộc tranh tài thể thao sạch sẽ và "phi chính trị", thì những gì đang diễn ra ở Tây Tạng cũng là một cơn ác mộng kinh khủng nhất cho họ.


Hai mươi năm hoang phí

Những trò đổ lỗi cho nhau bây giờ chẳng có ích cho ai. Thay vào đó phải là sự ý thức và nhìn thẳng vào thực tại. Trên thực tế thì xung đột Tây Tạng là một vấn nạn chính trị và những gì diễn ra hiện nay ở đấy là hậu quả phải gánh chịu cho việc Bắc Kinh và chính quyền lưu vong Tây Tạng đã để 20 năm trôi qua một cách phí hoài mà không tìm ra được một giải pháp nghiêm túc và hoà bình nào cho những vấn đề của họ.

Lần cuối cùng cả hai phía có những cố gắng hoà giải là vào đầu những năm 80. Lúc bấy giờ, với sự đồng ý của chính quyền Trung Quốc, Đức Đạt Lai Lạt Ma đã cử tổng cộng ba phái đoàn về Tây Tạng, gồm những họ hàng thân thích của ông, những chính khách lưu vong và những sư sãi thuộc hàng lãnh đạo Phật giáo. Đoàn nào về cũng gây ra một sự xáo động trên "mái nhà của thế giới".

Dân chúng đã bật khóc và tường thuật về những khổ nạn không thể nào kể xiết, về những vi phạm nhân quyền thô bạo nhất mà họ dã chịu đựng trong thời kỳ Cách mạng Văn hoá (1966-1976), về âm mưu diệt chủng và việc huỷ hoại nền văn hoá Phật giáo cao quí của họ. Theo nhiều nguồn ước đoán khác nhau thì con số người Tây Tạng đã chết bởi quân chiếm đóng Trung Quốc cũng như qua các chiến dịch chính trị diễn ra tại đấy có thể lên đến 1 triệu 200 ngàn người, tính từ thời điểm Đức Đạt Lai Lạt Ma đã phải rời bỏ quê hương của mình vào tháng 3 năm 1959.


Ngôn ngữ tuyên truyền cộng sản lỗi thời

Bắc Kinh đã hoảng hốt vì không lường trước những chuyện đó và từ đấy đã tránh né mọi cuộc đối thoại. Với những khẩu hiệu của thời cộng sản "tiền sử", bất kỳ hình thức biểu tình nào, ngay cả những cuộc biểu tình của các sư sãi Phật giáo, cũng bị đàn áp và miệt thị là những "cuộc bạo loạn của đám côn đồ". Đức Đạt Lai Lạt Ma - qua ngôn từ thô thiển bốc ra từ chiếc rương đã mục ruỗng của phương cách tuyên truyền cộng sản - thì trở thành một "bàn tay đen đúa" hoặc "một kẻ đòi ly khai đang âm mưu chia cắt đất nước". Những lời mời từ phía chính quyền Trung Quốc hướng đến Đức Đạt Lai Lạt Ma, rằng ông và chính quyền lưu vong của ông có thể hồi hương, nhưng với điều kiện là phải sống ở Bắc Kinh chứ không phải tại Tây Tạng, đã cho thấy rõ Đảng Cộng sản Trung Quốc thực tâm tới mức nào với lời mời của họ. Ngay đến cả việc lưu giữ hình ảnh Đức Đạt Lai Lạt Ma cũng bị trừng phạt.

Trong thực tế thì những nhân vật ở Trung Nam Hải, trụ sở của Bộ Chính trị Đảng Cộng sản Trung Quốc, hoàn toàn không quan tâm đến một giải pháp khả dĩ có thể chấp nhận bởi hai phía cho cuộc xung đột này. Bắc Kinh dựa vào khối dân số khổng lồ của họ, mưu đồ đè bẹp Tây Tạng bằng hình thức đồng hoá và chính sách định cư dân Trung Quốc. Từ nhiều thập niên nay, chính quyền Trung Quốc đã khuyến khích cán bộ, nông dân và thợ thuyền của họ đến lập nghiệp ở đấy, nơi mà người Tây Tạng đã từng một thời là sắc dân chiếm đa số.

Điều này không chỉ diễn ra trên vùng đất có tên "Khu vực Tự trị Tây Tạng", mà còn ở những tỉnh lân cận như Thanh Hải (Qinghai), Cam Túc (Gansu) và ở những vùng ven của tỉnh Tứ Xuyên (Sichuan), tất cả đều là nơi sinh sống hiện nay của gần 6 triệu người Tây Tạng. Cao điểm của chính sách này là việc xây dựng đường xe lửa đến Lhasa, được khánh thành cách nay ba năm. Điều thoạt tiên có vẻ như không có gì tệ hại này - bởi nhờ đó mà sự phồn vinh phát sinh từ những cải cách kinh tế cũng đến được với những vùng kém phát triển - rốt cuộc đã làm cho dân bản xứ trở thành những kẻ thiểu số ngay trên chính quê hương mình.


Đức Đạt Lai Lạt Ma thiếu một tầm nhìn xa về chính trị

Điều đáng tiếc là trong chiều ngược lại, Đức Đạt Lai Lạt Ma cũng đã bỏ lỡ nhiều dịp để đáp trả lại những điều ấy bằng những hoạch định chính trị thích ứng. Cũng phải thừa nhận rằng, với tư cách là một chính trị gia lưu vong và đồng thời cũng là một nhà tu hành chỉ có thể dùng phương pháp đấu tranh bất bạo động, thì ông cũng không có nhiều khả năng để lựa chọn. Nhưng dù ông có nổi tiếng như một kiểu "Pop star của sự quán tưởng và trầm tư" chu du cùng khắp thế giới, thì trong thực tế ông đã không mấy thành công trong việc đề ra một viễn cảnh chính trị cho tương lai dân tộc mình.

Đúng là kể từ giữa những năm 80, ông đã thôi không còn đòi hỏi một quốc gia độc lập cho quê hương bị chiếm cứ của mình. Điều mà vị lãnh tụ tinh thần của Tây Tạng mong muốn chỉ còn là một "quyền tự trị và độc lập văn hoá", như Mao Trạch Đông đã hứa hẹn với ông sau cuộc chiếm đóng năm 1951.

Nhưng cũng còn một sự thực khác, đấy là việc chính quyền lưu vong của ông vẫn còn mãi loay hoay với những ý niệm ám bụi lỗi thời, chẳng hạn như câu hỏi liệu nước Tây Tạng cũ trước khi bị Trung Quốc xâm chiếm đã từng là một quốc gia độc lập hay chỉ là một vùng đất nằm dưới sự thống trị của một Trung Quốc bá chủ. Điều khiến cho Trung Quốc thêm ngờ vực là Đức Đạt Lai Lạt Ma - mặc dù không dính dáng trực tiếp - nhưng hầu như vẫn được xem như là lãnh tụ của tổ chức có tên "Phong trào Vận động Tự do cho Tây Tạng" ("Free Tibet Campaign"), một phong trào đòi tự do và độc lập cho Tây Tạng.

Có thể chuyện đòi hỏi tự do cho Tây Tạng - như đã xảy ra với Kosovo và Đông Timor - là một điều đáng để ao ước. Nhưng vấn đề là tự do trong dạng vẻ nào? Như một Đông Timor nghèo đói và chìm đắm trong hỗn loạn, nơi mà ngay cả một người đã lãnh giải Nobel Hoà bình như Ramos Horta cũng chẳng còn thấy an toàn và được che chở? Hay là nên trở thành một kiểu "vườn bách thú-sắc tộc" Phật giáo, một địa điểm phục hồi sức khoẻ với bầu khí trong lành cho những người phương Tây và những ngôi sao Hollywood đã mỏi mệt với nền văn minh cơ giới? Đấy có thể là một ý tưởng tuyệt vời.

Tiếc rằng những thứ ấy chẳng ăn nhập gì với những chính sách dựa trên các khả năng và điều kiện thực tế. Trung Quốc sẽ chẳng bao giờ đồng ý trao trả độc lập cho Tây Tạng. Nước "Cộng hoà Nhân dân Trung Hoa" cộng sản - bấy lâu nay đã bước vào quá trình xoá bỏ những ràng buộc ý thức hệ - không tán thành điều này. Và cường quốc mang màu sắc dân tộc chủ nghĩa có tên gọi là "Nước nằm ở Trung tâm" - hiện đang toan tính thống trị cả tương lai châu Á - cũng không nốt. Và một nước Trung Hoa dân chủ - dần hình thành qua giao dịch kinh tế và thương mãi - trước sau vẫn chỉ là ảo tưởng của những kẻ mơ mộng ở phương Tây. Đối với Trung Quốc, Tây Tạng là "chuyện nội bộ" mà họ nhất định không cho phép ai xía mồm vào. Chính sách nhân quyền tồi tệ của siêu cường quốc Hoa Kỳ trong cuộc chiến đấu chống khủng bố hiện nay chỉ làm cho Bắc Kinh cảm thấy dễ dàng hơn trong việc tiếp tục duy trì đường lối cứng rắn của họ.

Vấn đề là: Trung Quốc phải hiểu rằng, trong một thế giới đã toàn cầu hoá thì chẳng còn có cái gọi là "những vấn đề nội bộ thuần tuý dân tộc". Người ta không thể muốn bay lên mặt trăng và đồng thời vẫn cứ khư khư bám vào những khái niệm về chủ quyền của thế kỷ thứ 19. Lhasa đã trở thành dải Gaza của Trung Quốc từ lâu rồi. Trên đường phố cũng như trong các chùa chiền, tiếng nói của những người ủng hộ Đức Đạt Lai Lạt Ma không còn là tiếng nói chủ đạo, mà chính là tinh thần của tổ chức "Nghị hội Thanh niên Tây Tạng" ("Tibetan Youth Congress").

Đấy là một nhóm người Tây Tạng lưu vong cực đoan, họ đã không còn đi theo đường hướng của Đức Đạt Lai Lạt Ma từ nhiều năm nay. Họ cho rằng con đường đấu tranh hoà bình của ông chẳng thể nào mang lại tự do cho quê hương, và dân Tây Tạng phải đi theo con đường của những phong trào giải phóng khác, như người Palestine và người Đông Timor.


Những kế hoạch đầy kịch tính cho Thế vận hội

Không phải Đức Đạt Lai Lạt Ma đã khiến cho vai trò của những thanh niên đầy giận dữ này trở nên quan trọng, mà chính bởi Trung Quốc không chịu thực tâm tìm kiếm một giải pháp chính trị cho Tây Tạng. Cũng giống như những đứa con của dải Gaza, lớp trẻ chống đối này thành hình là do chính sách đàn áp văn hoá và bị cô lập về mặt xã hội. Họ từ khước sự chỉ đạo của bất kỳ một kiểu "bề trên" nào. Và như thế, cái toan tính khởi thuỷ của những người cộng sản, là cứ đơn giản ngồi chờ cho đến lúc Đức Đạt Lai Lạt Ma qua đời thì vấn đề tự động sẽ được giải quyểt, đã bị những người theo xu hướng cực đoan này phá hỏng.

Và trên thực tế tiềm năng của lớp thanh niên cuồng nhiệt này còn rất lớn. Trong những tuần vừa qua, chính những cuộc tuần hành phản kháng từ Ấn Độ đi về hướng biên giới do họ tổ chức đã hâm nóng những cuộc biểu tình chống đối tại chính Tây Tạng. Nếu giới lãnh đạo Bắc Kinh tin rằng họ có thể dùng những biện pháp đàn áp thô bạo của lực lượng an ninh để ngăn chặn những thất bại có thể xảy ra trên mặt tuyên truyền đại chúng cho Thế vận hội, thì điều ấy chỉ làm lộ rõ rằng óc tưởng tượng của họ quả là quá nghèo nàn. Bởi liệu các ông các bà trong Bộ Chính trị sẽ xử sự như thế nào, khi hình ảnh của một nhà sư Tây Tạng tự thiêu trên sân cỏ Olympic Bắc Kinh được quay phim và phát tán đi khắp thế giới? Đấy là một chi tiết trong kịch bản được dự tính bởi lớp trẻ Tây Tạng đang nổi loạn.

Chìa khoá để giải quyết vấn đề nằm trong tay chính quyền Bắc Kinh, và họ không được phép chậm trễ. Trong những tuần lễ tới, áp lực quốc tế về việc tẩy chay Thế vận hội sẽ gia tăng, có thể trở thành một tai hoạ cho thể diện của Trung Quốc. Và đấy không phải chỉ là một thảm hoạ cho ban Tổ chức Thế vận hội, mà còn là cho tất cả các phía tham dự

Nếu muốn "Olympia Beijing 2008" không mang dư vị của "Berlin 1936", thì chủ tịch Đảng Cộng sản Trung Quốc Hồ Cẩm Đào phải tìm những giải pháp khác với những gì mà ông đã quen làm. Không phải là giải pháp sắt đá, mà phải là sự xuống thang hoà hoãn. Không phải là tiếp tục tuyên truyền ngu xuẩn, mà phải là đối thoại. Cái luận cứ rằng thể thao chẳng liên quan gì với chính trị hẳn là không còn dùng được.


Đức Đạt Lai Lạt Ma trên khán đài danh dự

Một bắt đầu tốt đẹp cho sự thay đổi này có thể là việc cho phép những quan sát viên quốc tế có mặt trong những phiên toà xử những kẻ bạo động ở Lhasa. Cũng như cần phải có những cuộc điều tra công khai, chẳng hạn việc trả lời câu hỏi là quân đội đã có nã đạn vào những thường dân phản kháng hay không, hay chỉ có việc người Trung Quốc định cư tại đấy bị giết bởi những kẻ đi biểu tình. Cả hai trường hợp, nếu có, đều phải bị đem ra xét xử.

Và nếu Trung Quốc thực sự là một cường quốc yêu chuộng hoà bình, thì thử hỏi có điều gì ngăn cản Bắc Kinh và chính quyền lưu vong Tây Tạng cùng bước vào một cuộc đối thoại thực sự để giải quyết các vấn đề của họ, trước khi Thế vận hội diễn ra. Không, một cuộc đối thoại, nếu có, không nên tổ chức ở Bắc Kinh, mà phải trên một phần đất trung lập. Nó cũng không nên diễn ra ở Washington hay Moskva. Jakarta hoặc Stockholm hẳn là những địa điểm thích hợp hơn. Hoặc cũng có thể là Genève, nơi đặt trụ sở của Uỷ ban Thế vận Quốc tế. Tất cả những điều này đòi hỏi sự thực tâm và sẵn sàng của một nước Trung Quốc đổi mới đã tháo bỏ mọi định kiến. Thật ra đấy cũng không phải là điều quá khó, bởi vì đấy chính là nước Trung Hoa mà những người tổ chức Thế vận hội 2008 ở Bắc Kinh muốn trình ra với thế giới. Với một điểm khác biệt, Đức Đạt Lai Lạt Ma được mời an vị trên khán đài danh dự. Nếu điều này xảy ra thì Trung Quốc sẽ nhận được sự kính trọng của toàn thế giới.


Bản tiếng Việt © 2008 talawas

Cao 4000m trên mực nước biển, Tây Tạng được coi là Roof of the World

Tuesday, 18 March 2008

Biến động tại Tây Tạng, phản ứng của cộng đồng thế giới...

Một số hình ảnh tại thủ phủ Lhasa Tây Tạng những ngày qua của hãng tin Reuters, AP...
Photo
Photo
Photo
Photo
Vị lãnh tụ tinh thần của nhân dân Tây Tạng, Đức Dalai Lama hiện phải lưu vong tại Ấn Độ
Người Tây Tạng lưu vong cùng những người ủng hộ cho nền độc lập của TâyTạng trên khắp thế giới đồng loạt biểu tình rầm rộ