Opening Cà Phê Tí Tách's Blog

Sunday, 27 January 2008

Có và không có

users online

Bài trích từ Osin's Blog. Trân trọng cảm ơn nhà báo Huy Đức

Không gian cho Trí Thức

Nhà văn Nguyên Ngọc, nhà sử học Dương Trung Quốc, nhà nghiên cứu Phạm Xuân Nguyên, cùng với tiến sỹ Phạm Duy Nghĩa đã nói hay hơn thế này trong một cuộc tọa đàm do Sài Gòn Tiếp Thị tổ chức hồi trước Tết. Tuy nhiên, Osin cho rằng những thông tin đã đựơc(tự) kiểm duyệt sau đây cũng đủ để chúng ta suy nghĩ đôi chút về vai trò của trí thức trong giai đoạn này.

Năm 2007

Rất nhiều chuyển động trong năm 2007, hứa hẹn, sẽ “kết trái”. Có những chuyển động bắt đầu từ chính quyền: Giải thưởng Nhà nước được trao cho Trần Dần, Lê Đạt, Phùng Quán, Hoàng Cầm; cho phép xuất bản tập tiểu luận được viết bằng tiếng Pháp của cụ Phạm Quỳnh. Sự “tái sinh” của Phạm Quỳnh, một nhân vật mà cả con người và tác phẩm đều phải “biến mất” trong suốt hơn 60 năm qua, chẳng phải là việc dễ dàng. Sự tôn vinh các nhà văn thuộc phong trào “Nhân Văn Giai Phẩm” cũng là một quyết định vẫn nên được coi là dũng cảm.

Có những chuyển động bắt đầu từ dân chúng, đặc biệt là những công dân trẻ tuổi. Họ đã thể hiện vai trò của thế hệ mình một cách bản lĩnh và trí tuệ trước các vấn đề thời cuộc. Không có gì phải ngạc nhiên về điều đó. Việt Nam đã đứng bên cạnh cộng đồng quốc tế, đã tiếp cận với những chuẩn mực văn minh và, từng bước, không thể không ứng xử theo những gì mà Thế giới đang có.

Người dân bày tỏ trách nhiệm vì “Nhà nước, dù quyền uy đến mấy, cũng không thể thay thế được tiếng nói của một dân tộc”, tiến sỹ Phạm Duy Nghĩa viết. Nhắc lại Trần Dần, Lê Đạt, Phạm Quỳnh…, nghĩ về sự “phân tuyến” mà thấy thấm hơn cả “tem phiếu”. Sự bao cấp và độc quyền các chuẩn mực, các giá trị văn hóa, tinh thần, không chỉ khiến cho nhiều nhân vật và tác phẩm phải chịu một số phận như vậy, mà còn tác động tới dân trí, một cách lâu dài.

Sự Im Lặng Của Trí Thức

Trí thức luôn là lực lượng được chờ đợi trước những thời điểm quan trọng. Kinh tế đang tiệm cận với những chuẩn mực của thị trường. Cấu trúc xã hội cũng muôn phần thay đổi. Các lực lượng khác của xã hội, bằng mọi cách, đã thể hiện mình. Trong khi, theo nhà nghiên cứu Phạm Xuân Nguyên, “trí thức thì im lặng”. Nhà văn Nguyên Ngọc cũng quan sát và có cùng nhận xét, nhưng vấn đề theo ông, bởi vì: “Chúng ta có một số nhà trí thức có tư cách nhưng không có một tầng lớp trí thức”.

Nhà sử học Dương Trung Quốc cho rằng lý do để Việt Nam chưa có được một “tầng lớp trí thức” là vì “tập tính dân tộc”. Mặt khác, theo ông Quốc, “không có tư hữu, không có tầng lớp sở hữu chủ làm sao có được một tầng lớp trí thức đúng nghĩa”.

Nhà phê bình văn học Phạm Xuân Nguyên nói, trong lịch sử, Việt Nam chỉ có các nhà nho chứ chưa có các trí thức. Ông Nguyên dẫn nghiên cứu của giáo sư Trần Đình Hượu: Từ nhà nho truyền thống, đến thế kỷ 18-19, khi các đô thị như “kinh Kỳ, phố Hiến” xuất hiện, ta có những “nhà nho tài tử”; khi Pháp vào, ta có những “nhà nho cần vương”; đến thời du nhập tư tưởng phương Tây, ta có những “nhà nho cải cách” như Phan Chu Trinh, rồi “nhà nho cách mạng” như cụ Hồ.

Nhà nho bao giờ cũng đi trước nhưng với tính cách của “kẻ sĩ” chứ không phải trí thức. Trí thức (mà ta đang gọi hiện nay) chỉ có nhân cách với lõi là “kẻ sĩ” chứ tư cách trí thức với nghĩa có thái độ dấn thân, dám bảo vệ chính kiến thì rất yếu. Chính vì vậy, mà theo nhà sử học Dương Trung Quốc, có những bậc “đại trượng phu”, trước thời cuộc, khi dân chúng chờ đợi họ lên tiếng cho Dân tộc thì họ chỉ có thể “giữ lấy lề” cho chính mình.

Nhưng chất “kẻ sỹ” ấy cũng đã nhiều phần mai một. Ông Dương Trung Quốc bày tỏ sự thất vọng khi chứng kiến, trong một cuộc tiếp xúc giữa một nhà lãnh đạo cao cấp của Đảng với trí thức, một vị “trưởng thượng” đã đứng lên để hỏi: “Vì sao có ngày doanh nhân mà không có ngày trí thức?” Một trí thức khác thì khiếu nại: “Tôi vừa về hưu là hộ chiếu đỏ bị thu lại ngay”. Rồi, một vị Chủ tịch hội than phiền: “Chúng tôi đã quy định, ai chống Điều 4 không ở trong Hội này thể mà hội chúng tôi cũng không được Đảng quan tâm gì cả”. Tiến sỹ Phạm Duy Nghĩa nói: “Không thể cứ có bằng cấp là trở thành trí thức”. Không thể có trí thức khi khát khao của những người có bằng cấp là chức tước, là bổng lộc thay vì tự do.

Giải Tỏa Quá Khứ

Khát khao tự do chính là yếu tố quyết định để Việt Nam có một thế hệ trí thức- nhà nho tham gia kháng chiến. Chính vì thế mà theo nhà sử học Dương Trung Quốc, Cách mạng có một thế hệ vàng như Văn Cao, Nguyễn Đình Thi, Phan Khôi… Nhưng phải nhìn lại lịch sử thì mới hiểu vì sao những thế hệ vàng như vậy đã không trở lại.

Nhà văn Nguyên Ngọc đánh giá cao việc trao giải cho các nhà văn thuộc phong trào "Nhân Văn - Giai Phẩm". Theo ông, phải biết, chỉ cách đây chưa tới 30 năm, nhà thơ Hoàng Hưng đã từng phải chịu “3 năm cải tạo” vì “tàng trữ” tập thơ Kinh Bắc của Hoàng Cầm, mới thấy ý nghĩa to lớn của việc tập thơ này có tên trong danh sách tác phẩm được giải thưởng Nhà nước.

Nhà sử học Dương Trung Quốc hỏi: “Tại sao nó (việc trao giải) không diễn ra sớm hơn, có phải phải đợi cho đến khi nhà Tố Hữu mất?” Mặc dù, nhiều tác phẩm của Tố Hữu là đối tượng phê phán của nhóm nhân văn giai phẩm, theo ông Quốc, bản thân Tố Hữu khi sinh thời cũng nói rằng mình không biết hết về vụ này. Ông Quốc cho rằng lịch sử Cách mạng Văn hóa của Trung Quốc còn kinh khủng hơn ta nhiều nhưng họ đã “giải tỏa quá khứ” một cách khôn ngoan, bằng cách cho nói thoải mái về thời kỳ đó. Trong khi, theo ông Quốc: “Ta có khuynh hướng coi lịch sử là sọt rác để phi tang quá khứ”. Và chính vì thế mà xã hội vẫn đang lưu cữu rất nhiều ẩn ức.

Phát hiện ra nhóm “Nhân Văn”, theo ông Nguyên Ngọc, được bắt đầu từ Quân đội. Ông Nguyên Ngọc nhớ, một vị tướng, người phát hiện và đích thân phân tích cho ông về “mức độ nguy hiểm” của nhóm này. Ông Nguyên Ngọc tiếc rằng lúc đó những người như ông, đã nghe bằng sự nồng nhiệt cách mạng chứ không giữ đựơc thái độ và tư cách độc lập cần thiết của những người trí thức.

Một Không Gian

Nhưng, trí thức khó có thể giữ được thái độ độc lập khi không có một không gian đủ rộng để họ bày tỏ chính kiến. “Không gian” đó gần như đã bị triệt tiêu khi, theo ông Nguyên Ngọc, văn nghệ, học thuật đã bị phân tuyến “hoặc đúng, hoặc sai; hoặc ta, hoặc địch” và diễn đàn chỉ có chỗ cho những người nhiệt tình, a dua chứ không còn chỗ cho những người tỉnh táo tranh biện và muốn đóng góp một cách thực sự có ích cho Cách mạng.

Nhà sử học Dương Trung Quốc cho rằng đó là “tình trạng chung của các nước dân chủ xã hội chủ nghĩa”. Nhà văn Nguyên Ngọc đồng ý với nhận xét đó, ông nói: “Những tác phẩm lớn nhất của người Nga thời kỳ Liên Xô đều do các nhà văn Nga hải ngoại hoặc nhà văn Nga ở ngoài Hội Nhà văn viết”. Tuy nhiên, sự khác nhau giữa cách mạng Nga và cách mạng Việt Nam, theo ông Nguyên Ngọc là, “sau cách mạng, toàn bộ trí thức Nga đi sạch còn ở ta hầu hết trí thức đều đi theo kháng chiến.

Nhà nghiên cứu Phạm Xuân Nguyên nói: “Mối quan hệ giữa văn nghệ và lãnh đạo thời kỳ đầu đã được mô tả như thời ‘Nghêu- Thuấn”. Tổng Bí thư Trường Chinh đã từng tranh luận suốt ba ngày với họa sỹ Tô Ngọc Vân về quan điểm “quần chúng hóa sinh hoạt”, “kháng chiến hóa văn nghệ”. Cho dù phần thắng cuối cùng không thuộc về ông Tô Ngọc Vân, nhưng dù sao thì thời đó, dân chủ vẫn còn tồn tại.

Theo nhà văn Nguyên Ngọc, “trí thức bắt đầu bị hạ nhục liên tục” trong các đợt “chỉnh huấn” sau khi các cố vấn Trung Quốc xuất hiện ở Việt Nam (từ năm 1950, một năm sau khi Đảng Cộng sản nắm quyền ở Trung Quốc), đỉnh cao là thời kỳ “Nhân Văn Giai Phẩm”. Ông Ngọc nói: “Vợ tôi cho đến giờ vẫn còn giận nhiều người, nhưng tôi thì tôi hiểu họ. Có những người “đánh” chỉ để tự vệ cho mình, có những người muốn tránh đấu tố bạn bè, đồng nghiệp thì đành phải cáo ốm vô nằm viện. Ngay như Nguyễn Tuân, vốn tự coi là người ngang ngạnh nhất cũng phải than, ‘Tao sống được tới giờ này là nhờ biết sợ’. Muốn làm kẻ sỹ lúc đó cũng khó. Nguyễn Huy Tưởng đã phải viết rằng, nhiều khi rất muốn từ chức nhưng từ chức thì vợ con biết lấy gì mà ăn”.

Nhưng, nếu so sánh với Nga thì theo ông Nguyên Ngọc: “Số phận các trí thức Nga còn bị đối xử tàn khốc hơn nhiều, nhưng có lẽ nhờ đứng trên một nền tảng văn hóa lớn và một nền độc lập lâu dài mà trí thức Liên Xô, thay vì chỉ là những “trí thức thuộc địa” như ta, vẫn có nhiều nhân vật đáng kính trọng. Nếu như có khá nhiều trí thức của ta chỉ là ‘cương trực vặt’ thì trí thức Liên Xô vẫn có những người như Bulgakov, thà xin Stalin “ban” cho một chân kéo màn ở nhà hát để kiếm sống nhưng tác phẩm thì không khuất phục. Hàng ngày Bulgakov vẫn lặng lẽ viết, cho dù phải 40 năm sau, tác phẩm của ông mới được công bố”.

Nhưng, không chỉ là số phận cụ thể của những con người. Trong một thời gian dài, những sản phẩm cổ động, tuyên truyền đã bị “định chuẩn” là nghệ thuật. Mặc dù, ông Dương Trung Quốc lưu ý, phải đặt tất cả những điều đó trong bối cảnh lịch sử đương thời. Nhưng, ông Nguyên Ngọc vẫn cho rằng, vụ “Nhân Văn Giai Phẩm” cùng với chiến dịch đấu tố trong hệ thống đại học mà đối tượng là những nhà trí thức lớn như Trương Tửu, Trần Đức Thảo… khiến cho những người như Hoàng Tụy mà cũng bị đấu tới 130 cuộc, hàng loạt những trí thức tên tuổi phải cởi áo giáo sư, đã để lại những hậu quả về mặt dân trí lâu dài và không thể nào khắc phục. Nhà văn Nguyên Ngọc nói: “Lúc đó chúng ta đã từng có một nền giáo dục đại học đàng hoàng. Những trí thức khá nhất của chúng ta đều là học trò của những người thầy bị đấu tố đó”.

Hình Thành “Tầng Lớp”

Hầu hết những trí thức Việt Nam tham gia kháng chiến đều vì “độc lập dân tộc”. Tuy nhiên, theo ông Nguyên Ngọc, khát vọng lớn nhất của trí thức là tự do. Đó là lý do vì sao khi hòa bình lập lại thì nhu cầu dân chủ và tự do xuất hiện. Trong tình huống ấy, theo nhà nghiên cứu Phạm Xuân Nguyên, nếu không có một không gian tự do đủ để tiếp cận với sự thật thì không thể nào tạo ra và tồn tại một tầng lớp trí thức thực sự.

Tiến sỹ Phạm Duy Nghĩa nói, tri thức Việt Nam đang được lưu giữ một phần ở trong nước và một phần tản mạn khắp nơi ở hải ngoại. Tuy nhiên, theo tiến sỹ, gom lượm tri thức đã khó, từ giới có học, có bằng cấp, tạo thành một lớp trí thức có năng lực khám phá, có đầu óc phản biện, có dũng khí đứng vững như cây thông lại càng khó hơn. Theo ông, khi Nho giáo suy tàn, nền Tây học chưa ổn định, ảnh hưởng của nền tư duy Xô Viết còn nặng nề, khó mà hình thành một “tầng lớp trí thức Việt Nam” có bản lĩnh và có khả năng phân tích phản biện.

Không thể thay đổi lịch sử nhưng vẫn có thể học từ lịch sử. Nhà văn Nguyên Ngọc đánh giá cao việc trao giải thưởng Nhà nước cho những nhà văn trong phong trào “Nhân Văn”. Tuy nhiên ông cho rằng cần phải làm nhiều hơn nữa để hóa giải quá khứ. Mở ra một thời kỳ hoàn toàn mới cho Việt Nam. Không chỉ là số phận của một số văn nghệ sỹ, trí thức mà còn vì sự ngẩng cao đầu của một dân tộc.

Với những tiến bộ công nghệ hiện nay, theo nhà văn Nguyên Ngọc, “càng siết thì sẽ càng rạn nứt”. Nhà nghiên cứu Phạm Xuân Nguyên cho rằng cần phải có “một nền chính trị tham dự thay vì tuân phục” thì mới nâng cao dân trí được. Bao cấp, đặc biệt là bao cấp về chính trị, nhiều khi sẽ dẫn đến sự trói tay cả một dân tộc. Không chỉ hình thành một tầng lớp trí thức dủ mạnh và có tư cách, theo tiến sỹ Phạm Duy Nghĩa, “Giữ quốc gia thời nay không thể chỉ duy nhất trông cậy vào nhà nước, (phải có) một xã hội dân sự phát triển như trăm nghìn thành lũy mới mong gìn giữ được những gì đã thuộc về người Việt Nam”

Huy Đức- Mỹ Lệ lược thuật

Tuesday, 22 January 2008

Cấm hàng Rong để thành Rồng?

users online

Mẹ già nua còm cõi gánh hàng rong...
Dăm miếng cau khô mấy lọ phẩm hồng
Vài thếp giấy dầm hoen sương sớm...
Chợt lũ quỷ mắt xanh trừng trợn
Khua giầy đinh đạp gẫy quán gầy teo
Xì xồ cướp bóc, tan phiên chợ nghèo
Lá đa lác đác trước lều
Vài ba vết máu loang chiều mùa đông
Chưa bán được một đồng (vì người ta cấm, đuổi chạy lung tung)
Mẹ già lại quẩy gánh hàng rong
Bước cao thấp trên bờ tre hun hút
Có con cò trắng bay vùn vụt
Luớt ngang dòng sông Đuống về đâu...
Mẹ ta lòng đói dạ sầu
Đường trơn mưa lạnh mái đầu bạc phơ
(Bên kia sông Đuống - Hoàng Cầm)
Các em bé sớm phải nhọc nhằn cơm áo để đỡ đần cha mẹ. ..Về đâu hỡi em?
Hàng triệu gánh hàng rong này trên cả nước. Về đâu?
"Gánh hàng rong cũng như xe ba gác giống như bát cơm đặt trên miệng người ta. Làm sao nỡ lòng đá bát cơm của người ta như thế... "

Các ông các bà "Không thể ngồi trong phòng khép kín hoặc trên ô tô đóng cửa để dẹp cái này cái kia..."
Không, các ông các bà ấy chỉ muốn xã hội không còn cảnh người nghèo khổ, lam lũ, bần hàn... họ đang nỗ lực xây dựng đất nước văn minh, giàu đẹp, tiến bộ!
"Đừng ngồi xe hơi rồi quên những người đi bộ"
Không, không đi bộ! Người ta đang BÒ, đang LẾT từng ngày... vì bị bỏ rơi một cách tàn nhẫn !
Cấm hàng Rong để hóa Rồng?
Rồng đâu chẳng thấy, thấy toàn người ĂN XIN
*Những từ trong ngoặc là của chuyên gia kinh tế Bùi Kiến Thành đăng trên Vietnamnet

Monday, 7 January 2008

Tôi khoái đi bầu kiểu Mỹ




users online

Đã bao nhiêu lần trong lịch sử nước Mỹ bầu cử tổng thống. Đó là những diễn biến chính trị thực sự đã chi phối và thu hút sự chú ý đặc biệt của mọi người trên khắp năm châu. Cho dù đang sống ở một siêu cường quốc hay chỉ một vùng đất khỉ ho cò gáy...Dẫu đang làm gì, một chính khách nổi tiếng hay chỉ là một chị bán vé số dạo, một anh xe thồ cà tàng...như ở VN ta chẳng hạn, mọi người, mọi nhà đều có thể quan tâm, chú ý đến quên ăn quên ngủ chỉ vì chuyện bầu cử này của người ta lắm chứ, tôi cho là nếu được như thế cũng đáng đồng tiền bát gạo, tại sao lại không nhỉ?

Có thể có ai đó cho là tôi đang dở hơi, quen cái thói bon chen vớ vẩn! Nhưng xin nói thêm để hiểu và rồi thông cảm, là người dân Việt đang sống trên đất Việt, chưa bao giờ tôi được đi bầu tổng thống cả. Tôi thèm, tôi khoái rồi tôi ước ao nên cứ hay nghĩ ngợi lung tung... Mà rồi, đây lại là chuyện bầu cử của nước Mỹ, đất nước được xem là đứng đầu thế giới về dân chủ, văn minh, tiến bộ, thế nên chuyện bầu cử tổng thống Mỹ luôn có sức hấp dẫn đặc biệt với mọi con người trên hành tinh này, nó đặc biệt và không hề lẫn với bất kỳ cuộc bầu cử tổng thống ở đâu cả, chuyện ấy là bình thường và cũng dễ hiểu

Thú thật, không như các lần bầu cử trước, từ thời ông Bill Clinton hay ông G. Bush, lần bầu cử này có đủ thời gian, điều kiện nên tôi có cảm giác vô cùng thích thú vì được "thưởng thức" tỉ mẩn ngay từ đầu khi các vòng đua ngoài đang diễn ra...

Hơn nữa bây giờ, với sự hỗ trợ đắc lực của các phương tiện truyền thông, trên kênh CNN, kênh BBC và nhiều nhiều các kênh khác nữa... cánh phóng viên làm việc như con thoi, liên tục cập nhật, tường thuật trực tiếp diễn biến, các bảng thống kế số liệu thay đổi từng giây trên màn hình, trên internet...Đã quá, khoái quá, tôi thích chí đến nỗi có lúc quên béng đi mất, cứ tưởng như là mình sắp được đi bầu tổng thống cho đất nước mình đến nơi vậy, khổ thân tôi!

Tất nhiên là dân VN chính hiệu, đang sống tại quốc gia có bản đồ hình S, cách nước Mỹ xa lắc lơ nhưng thông tin về các diễn biến trong tiến trình bầu cử mấy ngày nay (vài hôm trước thì ở bang Iowa, ngày mai thứ ba sẽ tới lượt bang New Hampshire..) tôi cũng nắm bắt ngay tức thì chằng khác một công dân Mỹ đang ở ngay lòng thủ đô Washington vậy thôi điều này cũng đáng để mình phổng mũi lắm chứ, tại sao lại không nhỉ?

Đảng Dân chủ hay Đảng Cộng hòa đang chiếm ưu thế ? Who will rise? Who will fall? Không sao, người dân Mỹ họ thừa thông minh cùng sự nhạy cảm cần thiết để dành cho vị tân tổng thống của đất nước họ mà...

Các công dân Mỹ quý mến! Tôi muốn nói rằng tôi đang ghen tị với quý vị. Tôi thèm lắm, thèm được đi dự các Đại hội đảng, nhất là việc được nghe ứng viên các đảng "cãi cọ" nhau rôm rả, công khai, minh bạch trước bàn dân thiên hạ... Rồi được đắn đo, tính toán, cân nhắc để bỏ phiếu cho ai, cho ai... Như những việc mà quý vị đang làm đấy! Đúng là đi bầu kiểu Mỹ, thích thật đấy! I HAVE A DREAM

Người nào cũng đủ tài, đức... tha hồ mà chọn
Dù cho Obama đã thắng tại Iowa nhưng tôi luôn luôn ủng hộ bà Hillary, tôi tin bà ấy sẽ trở thành tổng thống
Hillary Clinton, bà hãy cố lên!
Bà đã đắc cử ở New Hampshire rồi, hoan hô Hillary!
Tôi rất ngưỡng mộ bà, hãy là vị tổng thống phụ nữ đầu tiên đi vào lịch sử nước Mỹ!
Tư gia của gia đình cựu tổng thống Bill Clinton

Tuesday, 1 January 2008

Báo Pháp Luật "mở hàng" vấn đề biên giới Việt - Trung

Bài trên Báo Pháp Luật TPHCM online thứ tư ngày 2/1/2008
Sáng qua (30-12), UBND tỉnh Lào Cai tổ chức lễ mừng công trở thành tỉnh đầu tiên hoàn tất phân giới cắm mốc.
Buổi lễ có cả khách mời trung ương, khách Đại sứ quán Trung Quốc cùng đại diện tỉnh Vân Nam. Buổi chiều, vượt 50 km đường đèo mù sương, tới cột mốc 144 ở độ cao hơn 1.600 m vừa hoàn thành, Thứ trưởng Ngoại giao đặc trách vấn đề biên giới, ông Vũ Dũng, đã trả lời phỏng vấn Báo Pháp Luật TP.HCM.

Lần đầu tiên xác lập rõ ràng biên giới Việt-Trung

. Thưa ông, Hiệp định biên giới ký từ năm 1999 mà đến giờ mới có tỉnh đầu tiên hoàn tất cắm mốc thực địa. Ông có thể bình luận gì về sự kiện này?

+ Trưởng đoàn phân giới cắm mốc tỉnh Vân Nam nói đây là bông hoa đẹp thì đúng như vậy. Đây là bông hoa đẹp của quan hệ hữu nghị hợp tác Việt Nam - Trung Quốc, mở đường và khích lệ để sáu tỉnh biên giới còn lại sớm hoàn tất cắm mốc trong năm 2008 như thỏa thuận cấp cao hai nước.

Nhưng điều quan trọng chưa dừng lại ở cắm mốc mà là mở đường cho hợp tác kinh tế phát triển, để đường biên giới Việt-Trung thực sự trở thành biên giới hòa bình, hợp tác và cùng nhau phát triển. Với đà đã được tạo ra trong những năm qua, tôi tin rằng trong năm 2008 chúng ta sẽ hoàn thành toàn bộ việc cắm mốc trên toàn tuyến biên giới trên bộ Việt-Trung. Lần đầu tiên đất nước ta, dân tộc ta có một đường biên giới trên bộ với Trung Quốc rõ ràng, dễ nhận biết như thế.

. Ước tính còn khoảng 15% công việc phân giới cắm mốc trên toàn tuyến biên giới, bao giờ sẽ hoàn thành?

+ Hiện tại chúng ta hoàn thành 85%-87% công việc. Khu vực tồn đọng phần lớn là phức tạp, nhạy cảm tồn tại trong nhiều năm qua. Tuy nhiên, hai nước đã ký thỏa thuận hoàn tất phân giới cắm mốc trong năm 2008. Ban chỉ đạo trung ương đang bám sát, chỉ đạo phương án đàm phán triển khai cụ thể từng mốc, từng khu vực. Trung ương tăng cường lực lượng cho các nhóm phân giới cắm mốc với chuyên gia kỹ thuật giỏi nhất, khỏe mạnh nhất.

Không thỏa hiệp để mất đất

. 15% khu vực còn lại như ông nói là phức tạp. Tại sao vậy?

+ Phần lớn là điểm C. Năm 1999, khi ký Hiệp ước, đôi bên có 164 khu vực C, tức hai bên có nhận thức khác nhau. Chẳng hạn địa hình thay đổi không như bản đồ thời Pháp-Thanh hoặc mô tả trước đây không rõ. Nhưng những khu vực này đi vào cụ thể dần dần được giải quyết. Thác Bản Giốc, cửa sông Bắc Luân đều là khu vực C như vậy.

. Có người lo ngại đẩy nhanh tốc độ cắm mốc có thể thiếu chính xác. ông nghĩ sao?

+ Trong cuộc họp ở cấp trưởng đoàn Chính phủ về biên giới lãnh thổ, tôi và Thứ trưởng Bộ Ngoại giao Trung Quốc Vũ Đại Vĩ đã thỏa thuận một loạt biện pháp để đẩy nhanh tiến độ phân giới cắm mốc. Chẳng hạn, đồng loạt giải quyết tất cả các khu vực, kể cả nơi khó khăn nhất như thác Bản Giốc. Song song tạo điều kiện ổn định, ít ảnh hưởng nhất tới cộng đồng dân cư biên giới. Ngoài ra còn có một thống nhất rất quan trọng là đôi bên dỡ bỏ những công trình nằm trên đường biên giới, trong đó có công trình quân sự... Tôi tin là với các thỏa thuận đó, chúng ta hoàn toàn có thể đẩy nhanh việc phân giới cắm mốc.

Những chỗ chưa rõ thì phải tìm ra được đường biên vừa phù hợp với Hiệp ước, vừa được hai bên chấp nhận với tinh thần anh em chứ không phải là thỏa hiệp để mất đất.

Biên giới trên bộ: An ninh đã tốt lên nhiều

. Thưa ông, khu vực biên giới Việt-Trung thường xảy ra các vụ việc người dân hai nước tranh giành đất sản xuất, đôi khi dẫn tới xô xát. Cắm mốc xong liệu có giải quyết được vấn đề này?

+ Như khu vực này chẳng hạn, tình trạng vi phạm đã giảm đáng kể. Tại vì cắm mốc xong sẽ chỉ ra được một đường biên dễ nhận biết nhất, dễ quản lý nhất, cả dân và cán bộ đều biết giới hạn của mình tới đâu.

Ngay những nơi chưa hoàn thành thì so với một, hai năm trước, tình hình cũng đã tốt hơn rất nhiều, phù hợp với quan hệ Việt-Trung. Chúng tôi và các đồng chí biên phòng trực tiếp làm những việc đó biết rất rõ.

. Chúng tôi được biết với phần đất mà dân Trung Quốc xâm canh, người dân và chính quyền địa phương của ta đã chi tiền bồi thường công sức trồng trọt cho họ. Vậy với phần mà dân Việt Nam sang bên kia thâm canh, phía Trung Quốc ứng xử như thế nào?

+ Đã là quan hệ qua lại thì phải đôi bên cùng có trách nhiệm. Chúng ta rất đàng hoàng và phía Trung Quốc cũng phải có trách nhiệm. Vạch ra được một đường biên rõ ràng, dễ nhận biết nhất thế này, bà con không có gì thiệt thòi cả.

Việt Nam mất thác Bản Giốc?

. Thưa ông, vừa rồi các diễn đàn trên Internet có thông tin rất khác nhau về Hiệp định biên giới trên bộ. Thậm chí đặt cả vấn đề Việt Nam chịu nhiều thiệt thòi khi ký hiệp định này. Là người trong cuộc, ông giải thích thế nào?

+ Biên giới lãnh thổ là vấn đề thiêng liêng của mọi quốc gia. Việt Nam ta lại càng như vậy. Nhiều thế hệ đã chiến đấu vì chủ quyền, bảo vệ mảnh đất này. Dân tộc ta đi qua nhiều cuộc kháng chiến cũng để bảo vệ chủ quyền đó. Cho nên biên giới lãnh thổ là vấn đề rất thiêng liêng với từng người dân và với cả lãnh đạo nhà nước.

Tôi khẳng định thông tin mà bạn nêu hoàn toàn không có cơ sở. Vì chúng ta xây dựng Hiệp ước 1999 với Trung Quốc là đã dựa trên nguyên tắc của đường biên giới lịch sử. Tức là đường biên giới được xác định trên hai công ước Pháp-Thanh 1885 và 1897. Có thể nói Hiệp ước 1999 đã phản ánh đầy đủ nhất, trung thực nhất, chính xác nhất hai công ước đó. Cho nên không thể nói Việt Nam mất đất.

. Cụ thể với thác Bản Giốc thì sao? Có dư luận là Việt Nam bị mất.

+ Công ước Pháp-Thanh và Hiệp định 1999 quy định đường biên giới khu vực này chạy theo trung tuyến dòng chảy sông Quế Sơn, lên thác và tới mốc 53 phía trên. Do đó, phần thác cao rất đẹp của Bản Giốc hoàn toàn nằm bên phía Việt Nam, phần thác thấp nhưng là phần chính nằm ở sông Quế Sơn là thuộc Trung Quốc. Như vậy không có chuyện Việt Nam mất thác Bản Giốc. Tôi cho rằng có người thiếu thông tin nhưng cũng có người cố tình bôi nhọ chúng ta.

. Nhưng có thực tế như người dân địa phương phản ánh là trước đây cha ông họ vẫn canh tác, trồng cấy bên kia thác Bản Giốc. Điều đó có thể hiểu thế nào?

+ Khu vực nào cũng có. Có nơi hai xóm hai bên đường biên cùng dân tộc, cùng anh em họ hàng, làng xóm cả. Biên giới là một lịch sử dài nên qua lại xâm canh, xâm cư rất bình thường. Sau Hiệp định 1999, hai nước đang giải quyết vấn đề này. Chỗ nào thuộc về Trung Quốc thì trả về Trung Quốc, phần nào của Việt Nam thì trả về cho Việt Nam. Tuyệt nhiên không được hiểu là ta bị mất đất.

Đường biên giới được thể hiện trên bản đồ tỷ lệ 1/50.000, tức một mm trên bản đồ ra thực địa là 50 m. Người phân giới cắm mốc phải đưa được nét vẽ đó ra thực địa. Có thể nói đường biên giới chúng ta chưa bao giờ được phân định rạch ròi như bây giờ.

Vấn đề biển Đông không liên hệ tới tiến độ cắm mốc trên bộ

. Vấn đề cuối cùng, thưa ông. Việt – Trung còn tồn tại vấn đề biển Đông và dường như nóng lên nhiều thời gian qua. Việc này sẽ ảnh hưởng thế nào tới việc triển khai phân giới cắm mốc trên thực địa đất liền?

+ Tôi không thấy sự liên hệ nào giữa hai việc này. Chính Trung Quốc cũng rất quyết tâm hoàn thành phân giới cắm mốc trên bộ và cũng đang làm hết sức mình để hoàn tất trong tháng 6-2008. Còn vấn đề biển Đông, đôi bên tiếp tục bàn bạc tìm giải pháp.

. Với biểu hiện thanh niên tụ tập biểu thị tình cảm với chủ quyền, biên giới, nhiều ý kiến cho rằng Chính phủ cần có trách nhiệm hơn trong cung cấp thông tin tới dân chúng về vấn đề chủ quyền quốc gia. Ông nghĩ thế nào?

+ Tôi đồng ý. Trong chủ trương chung về công khai, minh bạch, nhà nước cần tăng cường thông tin cho báo chí, cho người dân để mọi người nắm được tình hình.