Opening Cà Phê Tí Tách's Blog

Monday, 21 April 2008

Đón đuốc Olympic




Mọi thứ đang trôi về những ngày cuối cùng của quý I năm 2008, những tháng đầu tiên của một năm với nhiều khó khăn, vất vả, không mong đợi. Chẳng riêng gì ở VN, con người ta ở khắp nơi trên trái đất đang có quá nhiều vấn đề để lo lắng, để ưu tư. Kinh tế, tài chính, lương thực, nhiên liệu, khí hậu... khiến các tổ chức thế giới đang phải cơ cấu lại nhiều chương trình mang tính chiến lược trên khắp toàn cầu.

Trở lại chuyện đất nước mình, vào thời điểm gần cuối năm vừa qua, năm 2007, chính phủ Trung Quốc bỗng nhiên“giỡn mặt”, công bố tỉnh queo bản đồ hành chính đảo Hoàng Sa của nước ta, một động thái ngạo mạn, khinh thường đến tận cùng, coi cả đất nước VN như rơm như rác! Dẫn đến việc ông Lê Dũng ở bộ ngoại giao ta phải có bài phát biểu đáp lại trên Thời sự VTV1, người dân trong cả nước đều được biết.

Hay quá, lịch sử như được hâm nóng lại từ đấy. Ai là người VN, đang sống, ngay hôm nay và cả mai sau, còn nợ ngàn lần và nhiều hơn thế nữa, những anh linh biết bao anh hùng lịch sử, cùng những chiến sĩ, của cả hai chính thể khi đất nước còn bị chia cắt, đã anh dũng bỏ mình vì sự toàn vẹn lãnh thổ cho quê hương VN. Còn bao nhiêu hồn ma người Việt chưa thể siêu thoát, còn vảng vất ngày đêm quanh những vùng biển đảo, biên giới từng bị quân Trung Quốc xâm lược.

Rồi, măc cho mọi thứ khó khăn, khổ sở, phiền nhiễu… nhưng, trong điều kiện hết sức hạn chế đó. Ta cứ tạm cho rằng vào những ngày ấy, độ cuối tháng 12 năm trước, ít ra cũng đã có những người VN, họ có được 2 lần, 2 lần được phơi gan, phơi ruột, bày tỏ ít nhiều lòng yêu tổ quốc, dân tộc, ý thức một cách sâu sắc hơn về sự toàn vẹn lãnh thổ, đồng tâm nhất trí, muôn lòng như một, tất cả mọi con người VN này như thể sẵn sàng đổ đến giọt máu cuối cùng cho niềm tin thiêng liêng, cao cả ấy.

Trong những biến động vừa qua gây chú ý của toàn thế giới, khi các sư sãi cùng dân Tây Tạng bị lính TQ đàn áp, tôi như nhìn thấy đâu đó trong họ, hình ảnh dân tộc VN mình, lòng rưng rưng ngậm ngùi, xót xa niềm thương cảm… Hơn nửa thế kỷ, một triệu hai trăm nghìn sinh mệnh người Tây Tạng đã hy sinh, cho nỗi khát khao độc lập rất chính đáng của dân tộc họ, nhưng chính quyền Bắc Kinh chắc chắn rồi, họ không bao giờ để người Tây Tạng có cơ hội để ngủ mơ, dù chỉ là một phút giây ngắn ngủi.

Đến chuyện rước đuốc Olympic 2008 đang đi vòng quanh thế giới. Không kể những điểm tiêu biểu, đình đám như London, Paris hay San F.. nơi mà ngọn đuốc đi qua cùng những con số đáng nể, 18 nghìn cảnh sát, an ninh chìm nổi, barie và hàng rào kẽm gai, súng và cả thiết giáp, trực thăng quần thảo trên trời...Còn tại Nepal, tôi mới nhìn thấy trên truyền hình chỉ vài phút trước đây, chính quyền Nepal vừa tuyên bố sẵn sàng shooting không thương tiếc!!

Để ý một chút, ta thấy, khi người Tây Tạng lưu vong biểu tình với quy mô ngày càng lớn bao nhiêu thì đồng thời ngay lập tức Bắc Kinh cũng cân bằng lực lượng, bằng việc huy động đông đảo đội quân cờ đỏ, họ có mặt mọi nơi, như thể muốn ăn tươi nuốt sống, muốn xé tan hết dấu vết của những lá cờ Tây Tạng, những hình ảnh Đức Dalai Lama được người ta rước trước ngực với lòng cung kính., họ muốn nhổ toẹt, họ gọi đức phật sống của người Tây Tạng là "bè lũ..." Đồng thời tôi cũng không bao giờ quên tấm biểu ngữ thật đẹp đẽ, được làm trong suốt để có thể nhìn nó từ mọi phía, bay phấp phới trên cầu Golden Gate lộng gió ở San Francisco. Ý nghĩa của hàng chữ "MỘT THẾ GIỚI, MỘT ƯỚC MƠ, TỰ DO CHO TÂY TẠNG" như thể những cái gai đâm xuyên vào mắt hàng tỉ người Trung Quốc.

Láng giềng gần ta là Thái Lan, Malayxia không đến nỗi gặp cơ hội "đình đám" kiểu như vậy, nhưng họ rất tự nhiên bảo vệ an toàn cho ngọn đuốc đồng thời chấp nhận cho người ta biểu tình trong trật tự để bày tỏ một cách ôn hoà, đó là cách xử sự đúng mực của một xã hội dân chủ, tiến bộ, cách xử sự của con người với con người trong thế kỷ XXI.

Chỉ cách đây vài giờ, đuốc Olympic 2008 rời Kuala Lampur để qua Indonexia, thêm vài điểm nữa rồi vào ngày 29 này sẽ đến VN…Rồi, cũng những nghi thức rước đuốc quen thuộc như mọi nơi, 2 hàng Siêu vệ sĩ mặc bộ đồ xanh trắng, vẻ hiền hoà nhưng luôn sẵn sàng cho ai đó nếm những thế võ độc nhất vô nhị, gây chấn thương, bại liệt cột sống tại chỗ. Còn chính phủ ở VN ta, các ngành các cấp cũng sẽ cam kết bảo vệ thành công sự an toàn cho ngọn đuốc Olympic như các nơi khác

Trước giờ đón đuốc, mọi người VN đang nôn nao hướng về Sài Gòn. Mừng vui, hớn hở, vinh dự, tự hào vì, trong ngọn lửa ấy, có sự sống của chính từng con người trên khắp thế giới hợp lại.

Để xem, dân Tầu sẽ kéo sang đông nghịt để to mồm cổ động, kệ bố tụi bây, bà mầy cóc cần để ý, mọi người dân VN sẽ chỉ quan tâm, chú ý tới những lá cờ Tây Tạng...Có nhiều thứ khác, hay ho, lý thú hơn lá cờ Tầu sẽ xuất hiện trên bầu trời Sài Gòn, tại sao lại không ?

Một cái gì đó đang ngổn ngang, hỗn độn trong tôi. Đuốc chưa đến nhưng mọi thứ đang nóng dần, nóng dần...Tôi đang nôn nao, mường tượng cảnh lễ rước đuốc tại Sài Gòn, trước ống kính máy quay của các hãng truyền thông quốc tế, thế giới họ sẽ biết gì, hiểu gì về mối quan hệ giữa Trung Quốc với VN ?

Còn 7 ngày nữa. Hừm! để bớt căng thẳng, ngay bây giờ đây, tôi sẽ lôi giấy bút, viết thật to, viết rõ ràng những hàng chữ như tôi từng ước ao từ lâu:

-Hoàng Sa – Trường Sa belong to Việt Nam!

-Trung Quốc đừng ỷ lớn hiếp nhỏ, đừng lấy thịt đè người!

-Trung Quốc phải xấu hổ với thế giới vì ý đồ thôn tính từng phần đất của VN!

-Hãy trả lại những phần đất Trung Quốc từng chiếm đoạt của VN!

-Trung Quốc chưa bao giờ xứng đáng là nước lớn!

- Trung Quôc tổ chức Olympic là sai lầm của ông chủ tịch IOC!

-Shame on China!

-Kịch liệt phản đối Trung Quốc xâm phạm lãnh thổ Việt Nam!

-Trung Quốc miệng NAM MÔ, bụng một bồ DAO GĂM!

-Don't believe China!

-Người Việt Nam yêu đất nước Việt Nam - thù quân bành trướng Trung Quốc đời đời kiếp kiếp!

21 tháng 4 năm 2008

Wednesday, 2 April 2008

Úm ba la




Từ lúc các vòng bầu cử sơ bộ tổng thống Mỹ diễn ra đến nay, bên đảng Cộng hoà coi như đã yên vị. Thượng nghị sĩ Mitt Romney và Mike Huckabee, vì lợi ích của đảng mình cùng lợi ích quốc gia mà đồng lòng nắm tay nhau rút lui. Ông John Mc Cain thở phào, ẵm gọn cái xuất đề cử chính thức ứng viên TT của đảng Cộng Hoà, một mình một ngựa thẳng tiến. Thời gian thênh thang, ông TNS "Cựu phi công phản lực cơ tù binh chiến tranh VN" này lạng một vòng qua tận Iraq, một công đôi việc, trước là thăm hỏi anh em binh sĩ, chúc sức khoẻ rồi động viên, sau nữa phần quan trọng nhất là dặn dò ủng hộ cho đảng Cộng hoà nhé nhé! Rồi tiện thể ông ghé luôn một số nước Châu Âu để tiếp tục vận động, từ xa. Lợi thế của John Mc Cain đương nhiên là sự ủng hộ mạnh mẽ của TT Bush đương nhiệm, ông sẽ tiếp nối những gì ông Bush đang làm và chưa làm được, đường lối chính sách của chính phủ tương lai của ông đã rõ như ban ngày!

Về phía những người ủng hộ đảng Dân chủ, họ sốt ruột và nôn nóng ra mặt. Thực tế thì ông Obama vẫn dẫn trước bà Clinton khoảng 150 phiếu đại cử tri, nhưng thực ra cả hai còn cách xa số phiếu tối thiểu cần có, để được chọn ra làm đại diện ứng viên TT chính thức cho đảng mình. Giới chính trị gia kỳ cựu phân tích cả hai TNS đều khó lòng đáp ứng được yêu cầu này nếu cứ kéo dài tình trạng bất phân thắng bại như hiện nay, thiệt thòi cho đảng Dân chủ là không nhỏ. Cách đây 2 ngày, những người ủng hộ Obama đã lên tiếng kêu gọi bà Clinton hãy bỏ cuộc, để tránh tổn thất cho Đảng này , nhưng tôi tin bà chẳng thể rời cuộc đua này một cách dễ dàng.

Clinton đối với tôi là một phụ nữ hiếm hoi, một phụ nữ có hệ thần kinh cứng như thép, mặc dù trước khi cuộc đua vào đến hồi khốc liệt nhất, đã có lúc mắt bà gần như rơm rớm khi trả lời phỏng vấn của báo giới... nhưng nhìn bà tôi luôn cảm nhận bên trong con người ấy tiềm ẩn một nội lực mạnh mẽ, phi thường.

Thường là tôi bỏ dở tất cả mọi công việc khi thấy bà xuất hiện trên truyền hình, mặc dù vốn tiếng Anh lõm bõm chỉ câu được câu chăng, tôi vẫn nghe và theo dõi cho đến hết. Tôi thấy bà có đủ cả nét đẹp, sự sang trọng, về thể chất cũng như tầm hồn dành cho một phụ nữ, cũng như thừa sắc xảo, thông thái, mưu lược cho vai trò đứng đầu một quốc gia văn minh, 300 triệu dân.

Có những lý do để tôi khao khát bà Clinton làm tổng thống. Thứ nhất vì nước Mỹ chưa từng có nữ tổng thống. Thứ hai bà đã từng đến VN, thứ nữa chỉ đơn giản vì bà là phụ nữ, từ lâu, lúc ông Clinton còn đương chức, tôi thực lòng rất quý mến bà cũng như cả gia đình Clinton. Đối với tôi, thời kỳ kinh tế ổn định và thịnh vượng trong 2 nhiệm kỳ TT của chồng bà, ông Clinton trước đó sẽ mang đến cho bà những lá phiếu ủng hộ cần thiết và mạnh mẽ, người dân Mỹ sẽ nhìn thấy những giá trị đích thực của gia đình Clinton.

Tôi rất muốn được quan sát, dõi theo từng ly từng tí xem, sẽ ra sao khi phụ nữ gánh vác cái trọng trách nặng nề, có thể nói là phức tạp bậc nhất này. Không phải chỉ đơn thuần là việc điều hành một đất nước lớn mạnh, đa chủng tộc, đa văn hóa.... Mỗi tiểu bang đều có thể xem như một quốc gia với nhiều đặc điểm và niềm tự hào vô biên của họ, không bang nào giống bang nào... Nhưng xa và quan trọng hơn chính là những công việc cùng trách nhiệm lớn lao của đất nước Hoa Kỳ đối với cộng đồng các quốc gia trên thế giới, về vô số vấn đề, kể cả những nước giàu cho đến những nước còn nghèo đói, lạc hậu...

Như vậy, khi bà trở thành tổng thống Mỹ, không chỉ riêng tôi, tôi tin niềm hãnh diện phi thường ấy sẽ dành cho tất cả những ai là phụ nữ trên khắp thế giới .Thế nên, trước sau tôi cứ vẫn và luôn luôn ủng hộ bà. Nhiều đêm trong giấc ngủ không tròn, tôi mơ màng thấy bà đang đọc diễn văn trong buổi lễ tuyên thệ nhậm chức TT Hoa Kỳ trước một rừng người chật cứng trên quảng trường Mall ở thủ đô Washington...

Sáng hôm sau hì hục, lôi màu lôi cọ ra, tôi vẽ tấm biển giống như nhìn thấy trên CNN : Hillary for president. Tìm cái ống nhôm vuông tôi găm bảng lên đàng hoàng như thể chuẩn bị đi chiến đấu với Obama hay quan trọng hơn nữa là với đảng đối thủ, ông Mc Cain vậy.

Đôi khi tôi nghĩ lan man, nếu tấm lòng hâm mộ, quan tâm quá cỡ này của tôi đối với bầu cử Hoa Kỳ được thể hiện giật lùi về phía trước chừng hai thập kỷ, cái thời mà bang giao với Mỹ còn như đám rừng bị bom Napal, lâu vắng bóng người, cây cối cháy nám, đen còi trơ gốc... Có vậy thì tôi đã xanh xương chứ chẳng đùa!!

Ngày bầu cử "Super Tuesday" tháng trước, tôi theo ôm sát TV. Bảng kết quả điện tử live chạy báo ngay tức thì từng giây, đến tờ Washington Post hay New York Times của Mẽo bên ấy cũng chỉ nhanh đến thế là hết mức. Nhìn thấy bà Clinton thắng to, mẹ con tôi reo hò làm hàng xóm ngơ ngác, chả hiểu chuyện gì, họ nghi nhà tôi trúng độc đắc! Sau đó tôi dắt đãi cu cậu một chầu hamburger nóng hổi. Đang nhai nhồm nhoàm đầy miệng, cu cậu phát biểu "Bà Clinton cứ thắng đi cho con hưởng sái..." Đến lượt Obama thắng, mặt tôi méo xẹo, mặt cu cậu chẩy cứ như bánh đa nhúng nước, rồi lầu bầu "Không thể ưa được ông này, ghét thế..."

Cái Thảo, cháu gọi tôi bằng cô, mới sang học ở San Jose được vài tháng. Tôi ra sức tranh thủ "nói bác Ngọc, dì Quý, cậu Tuấn, cậu Hiệp, tất cả các anh, chị nhà bỏ phiếu Clinton cho cô nhé, đó chính là ủng hộ cô mầy vậy... "

Nó nói "Cô đừng lo, cháu thấy người ta ủng hộ bà ấy dữ dội, buổi nào bà diễn thuyết là đông nghẹt hà...". Hừm, tôi nghĩ bụng, Obama nào thua kém gì. Nghe bảo ông ấy có những buổi nói chuyện đầy thuyết phục, lay động lòng người lắm, đến nỗi có lúc người ta đứng cả dậy, hoan hô, vỗ tay rào rào như sấm .

Theo báo chí thống kê cho thấy 70% giới trẻ bất kể màu da ủng hộ Obama, trong khi đó ở tuổi trung niên 70 đến 80% phụ nữ ủng hộ Clinton. Thế là một đều. Nhưng ngoài ra tôi còn nhiều lý do khác nữa để lo lắng...

Hầu như giới truyền thông hoàn toàn "phải lòng" Obama mất rồi! Tôi thấy clip ca nhạc của những nghệ sĩ da màu ủng hộ ông mang tên "YES, WE CAN" được phát đi phát lại, những huyền thoại về Obama thi nhau ra lò..., những buổi phỏng vấn trực tiếp làm tách bạch, rõ ràng hơn, cụ thể hơn quan điểm, đường lối của ông về nhiều vấn đề to tát, hóc búa cho đến những chuyện đời thường nhỏ nhặt... họ không để trống một giây nào tung hết "chiêu" cho ứng viên tổng thống đang được giới truyền thông đặc biệt ưu ái!

Ngôi sao talk show truyền hình, bà béo có duyên Oprah Winfrey, giòng họ TT Kenedy tiếng tăm nữa..., tất cả họ đều xăn tay áo vận động hết cỡ cho Obama. Xa tít bên xứ sở Phù Tang, có thành phố mang tên Obama, dân chúng ở đây nhân cơ hội này ủng hộ ông sát rạt, bakery còn cho ra lò những chiếc bánh mì lốp nóng hổi có in tên Obama. Áo thun, túi xách, vật lưu niệm đều in hình vị TNS da màu này. Tất cả trở thành những điểm nhấn hết sức đặc biệt, ý nghĩa và sinh động mang thêm nhiều lợi thế cho ông ấy.

Đối với tôi, Obama là người đàn ông không hề đẹp trai và có một chút nào quyến rũ, trừ cái tài ăn nói. Nhưng với cái đà tâm phục khẩu phục của dân chúng Mỹ như hiện nay, nhất là giới trẻ đang dành cho ông, tôi chỉ dám giả dụ rằng, bao nhiêu tiền của và trí tuệ ông đã bỏ ra cho cuộc vận động này rồi chỉ trở thành kinh nghiệm, để tích luỹ...(thành thật xin lỗi những ai đang ủng hộ Obama!) chắc chắn một điều, ông ấy sẽ là vị tổng thống Mỹ trẻ tuổi trong một tương lai không xa. 47 tuổi, cơ hội đê làm tổng thống dành cho ông còn quá nhiều so với các đối thủ, nói đúng hơn là cơ hội cuối cho cả vị TNS Cựu phi công tàu bay phản lực và Cựu đệ nhất phu nhân Hoa Kỳ này của tôi mà !

Còn bây giờ, con số mới đây được bộ quốc phòng Mỹ thống kê nhân ngày kỷ niệm 5 năm cuộc chiến Iraq, tròn 4000 lính Mỹ tử trận, cuộc chiến Iraq lại đang trong hồi khốc liệt nhất mấy ngày vừa qua, sẽ nhanh chóng bị thay đổi. Dân chúng Mỹ đã ngán ngẩm, họ lặng lẽ và càng xa lạ hơn trước những ngân sách chi phí chiến tranh khổng lồ...

Thị trường Phố Wall đỏ lè đã nhiều ngày, màu xanh vẫn trốn mất biệt, Cục Dự trữ Liên bang họp báo, báo động khẩn cấp, cắt giảm lãi suất, một lần rồi đến hai lần, chỉ trong một thời gian ngắn ngủi... Mặc cho các tay phù thuỷ kinh tế tài chính danh tiếng, lẫy lừng đang dơ đũa hô biến, nền kinh tế đất nước hùng mạnh này vẫn tiềm ẩn ở đâu đó nguy cơ suy thoái, nó vẫn ẻo lả, thoắt ẩn hiện như những bóng ma trong phim kinh dị!

Vâng, hẳn rồi, dân chúng Mỹ, họ không có lý do để chọn lựa ông Mc Cain. Một sự chọn lựa mà rồi ngày ngày, chỉ dành cho những phát súng cùng các nghi thức trọng thể để đón những quan tài binh sĩ Mỹ, phủ tấm quốc kỳ hai màu xanh đỏ, có cả hùng tráng lẫn bi thương...

Bà Hillary Rodham Clinton ơi! Nơi đây tôi chờ, nơi kia tôi chờ! Hãy nói với tôi. Bà sẽ làm Tổng thống Mỹ! Cảm ơn bà.

Chelsea Clinton, con gái yêu quý của bà đã chẳng bảo với mọi người "Mẹ tôi làm tổng thống tốt hơn bố tôi"

Viết sau ngày Cá tháng tư, khi trời bắt đầu oi ả.

Saturday, 29 March 2008

Mặt trận im thin thít!

"Trên bản đồ thế giới, hình thể đất nước ta như hình ảnh người nông dân đội nón trên đầu, đang oằn mình dưới sức nặng của khối Trung Hoa lục địa... "

Phát biểu của GS Tương Lai tại
Hội nghị Ủy Ban Trung Ương
Mặt Trận Tổ Quốc Việt Nam
(GS Tương Lai, một nhà trí thức tên tuổi, nguyên Viện trưởng Viện Xã hội học VN)

Cũng như mọi năm, tại Hội nghị Ủy ban trung ương MTTQVN lần này, tôi xin được phát biểu ý kiến, và lần này tôi xin nêu ý kiến về hai vấn đề.

Vấn đề thứ nhất: diễn đàn của Mặt trận là một diễn đàn rộng rãi nhất, cởi mở nhất của nước ta hiện nay. Tại đây, làm sao qui tụ được trí tuệ, ý chí, nguyện vọng của mọi tầng lớp nhân dân, thiết tha với vận mệnh dân tộc, không phân biệt quá khứ, tôn giáo tín ngưỡng, ý thức hệ, là đòi hỏi của đất nước trong giai đoạn lịch sử mới. Những ý kiến đó có thể trái tai với những cá nhân nào đó, cho dù đang ở cương vị nào, nhưng miễn là ý kiến ấy xuất phát từ một động cơ trong sáng vì nước, vì dân thì rất cần khuyến khích phát biểu. Có như vậy thì Mặt trận mới thực hiện chức năng cao cả của nó là một tổ chức chính trị rộng lớn nhất, đại diện cho ý chí và nguyện vọng của mọi tầng lớp nhân dân trong và ngoài nước, chứ không chỉ là một tổ chức hoạt động từ thiện, xóa đói giảm nghèo, mặc dầu hoạt động này trong thời gian qua đã có đóng góp rất lớn và thiết thực, cần được tiếp tục phát huy.

Văn kiện Đại hội X của Đảng cộng sản Việt Nam đã ghi rõ: "Ở đâu có dân chủ, ở đó có đoàn kết, đồng thuận và phát triển" ( tr.344). Tạo điều kiện, tạo môi trường để phát huy dân chủ thực sự phải là một chức năng chủ yếu của Mặt trận, đặc biệt là trong giai đoạn hiện nay, khi mà tiến trình phát triển đất nước và hội nhập quốc tế đi vào chiều sâu, đòi hỏi phải quy tụ được sức mạnh của toàn dân tộc, trước hết là sức mạnh trí tuệ của người Việt nam, tạo nên được một sự đồng thuận mới, là một nhu cầu của chính sự phát triển và hội nhập ấy. Muốn quy tụ được hiền tài để cùng nhau gánh vác sự nghiệp của đất nước thì phải thật lòng đoàn kết. Có thật lòng đoàn kết mới có dân chủ thực sự. Chất lượng của khối đại đoàn kết dân tộc được nâng cao đến đâu thì việc thực hành dân chủ tiến triển được đến đó. Sức nam châm có lực hút hiền tài là thái độ chân thành thật lòng đoàn kết được thể hiện rõ ràng gắn liền với độ rộng mở của dân chủ thực sự trong việc tạo ra môi trường thuận lợi để cho những tài năng thật sự có thể phát huy. Đúng là "phải thật sự công tâm, khách quan và đặc biệt là phải thực sự dân chủ; vì không dân chủ, hay chỉ dân chủ hình thức thì không chọn được người tài" như sự khẳng định của người đứng đầu Chính phủ trong cuộc đối thoại trực tuyến đầu năm ngoái.

Khi vị thế của Việt Nam đang được nâng cao, thì năng lực và kinh nghiệm để đảm trách những hoạt động quốc tế, trên thương trường cũng như trên chính trường, là những đòi hỏi bức xúc. Để đáp ứng đòi hỏi đó thì việc thật lòng đoàn kết và thực sự dân chủ là điều kiện tiên quyết để mời gọi những hiền tài, những chuyên gia giỏi trong và ngoài nước, tự nguyện tham gia cùng gánh vác công việc khó khăn đó. Người làm công tác Mặt trận phải thấu triệt vai trò lớn lao quy tụ hiền tài của tổ chức chính trị lớn nhất trong hệ thống chính trị của cả nước. Để làm được điều đó, người làm công tác Mặt trận phải có chính tâm và có hiểu biết.

Về chính tâm, xin dẫn lời người xưa. Sách Luận ngữ, thiên Nhan Uyên có chép chuyện Quý Khang tử hỏi Khổng Tử về chính trị. Khổng Tử đáp: "Chính trị là chính đính. Ông cai trị dân một cách chính đính thì ai dám không chính đính". Trả lời Ai Công về cách cai trị để dân nghe theo, Khổng Tử chỉ nói một điều: "Đề cử người ngay thẳng lên trên người cong queo thì dân phục tùng, đề cử người cong queo lên trên người ngay thẳng thì dân bất phục". Mà để làm được điều đó thì ngoài sự chính tâm, cần phải có hiếu biết.

Câu nói nổi tiếng của Khổng Tử về sự hiểu biết và cách học để có sự hiểu biết đó là một đúc kết có giá trị vĩnh cữu. Giá trị vĩnh cửu ấy càng tăng thêm trong điều kiện của thời đại kinh tế tri thức và nền văn minh trí tuệ của thế kỷ XXI: "Tri chi vi tri chi, bất tri vi bất tri, thị tri dã". Biết điều gì thì nhận là biết, không biết thì nhận không biết, như vậy chính là biết.

Trong nhận thức của tôi, qua mấy nhiệm kỳ tham gia vào UBTƯMTTQ từ năm 1983 đến nay, tôi nghiệm ra rằng, làm công tác Mặt trận vừa rất dễ, vừa rất khó. Dễ thì như loại tôi, mỗi năm cố gắng suy nghĩ để có được một bài phát biểu và rồi xuân thu nhị kỳ có đôi lần họp Hội đồng tư vấn. Hoặc như một số cán bộ chuyên trách làm nhiệm vụ như các cán bộ, viên chức của bất cứ cơ quan Nhà nước nào. Nhưng khó, cực khó là làm sao để cho công tác Mặt trận thực sự là công tác vận động tri thức, nhân sĩ và các tầng lớp nhân dân kết thành khối đại đoàn kết dân tộc, đoàn kết thật lòng để cùng nhau xây dựng và bảo vệ đất nước. Người cán bộ Mặt trận phải có sức thu hút và thuyết phục mọi người, trước hết là những người tiêu biểu cho khối đại đoàn kết dân tộc. Và đấy cũng là kỳ vọng của chúng tôi đối với Mặt trận.

Vấn đề thứ hai: Mặt trận phải là nơi khơi động và phát huy tinh thần yêu nước của mọi tầng lớp nhân dân ta. Chủ tịch Hồ Chí Minh từng khẳng định đó là một truyền thống quý báu của nhân dân ta. Từ xưa đến nay, mỗi khi Tổ quốc bị xâm lăng, thì tinh thần ấy lại sôi nổi, nó kết thành một làn sóng mạnh mẽ, to lớn, nó lướt qua mọi sự nguy hiểm, khó khăn, nó nhấn chìm tất cả lũ bán nước và lũ cướp nước. Cụ Hồ chỉ rõ: "Tinh thần yêu nước, cũng như các thứ của quý, có khi được trưng bày trong tủ kính, trong bình pha lê, rõ ràng dễ thấy. Nhưng cũng có khi cất giấu kín đáo trong rương, trong hòm. Bổn phận của chúng ta là làm cho những của quý kín đáo ấy đều được đưa ra trưng bày…"

"Chúng ta" đây là ai? Là Đảng, là Mặt trận. Đặc biệt là Mặt trận. Chính vì thế, tôi rất băn khoăn thắc mắc và hôm nay, trên diễn đàn rộng lớn và hợp pháp này, muốn nói to lên thắc mắc băn khoăn đó để mong được giải đáp.

Ở thành phố Hồ Chí Minh, chỉ theo dõi được qua báo chí và mạng internet, tôi hết sức lạ là tại sao Mặt trận Tổ quốc Việt nam chúng ta không có bất cứ một tiếng nói, một động thái nào trong vấn đề Hoàng Sa và Trường Sa." Mỗi khi Tổ quốc bị xâm lăng", như lời cụ Hồ vừa dẫn ra ở trên, đáng lý Mặt trận Tổ quốc, kế tục truyền thống của Hội nghị Diên Hồng đời Trần, truyền thống của Mặt trận Việt Minh, Mặt trận Dân tộc Giải phóng,…, phải làm sống lại tinh thần bất khuất, quật cường khắc trên cánh tay hai chữ "sát thát", làm cho tinh thần yêu nước kết thành một làn sóng vô cùng mạnh mẽ, to lớn. Đằng này Mặt trận tuyệt đối im lặng. Thật là lạ. Một chuyện xảy ra tận Cuba bên kia bán cầu, Mặt trận đã có ngay lời tuyên bố đanh thép. Thế mà, Hoàng Sa, Trường Sa máu thịt của Tổ quốc bị người ta mưu toan lấn chiếm, biến thành quận huyện của của họ, thì Mặt trận lại im thin thít. Vì sao? Mặt trận Tổ quốc có còn kế thừa truyền thống của Mặt trận Việt Minh, Mặt trận Dân tộc Giải phóng nữa không?

Trong một bài báo viết nhân dịp này, tôi dẫn ra chỉ dụ của vua Lê Thánh Tông nhắn nhủ "bọn thái bảo Kiến Dương bá Lê Cảnh Huy": "Một thước núi, một tấc sông của ta, lẽ nào lại có thể vứt bỏ? Ngươi phải kiên quyết tranh biện, chớ cho họ lấn dần. Nếu họ không nghe, còn có thể sai sứ sang phương Bắc trình bày rõ điều ngay lẽ gian. Nếu ngươi dám đem một thước, một tấc đất của Thái tổ làm mồi cho giặc, thì phải tội tru di", chép rõ ràng trong Đại Việt sử ký toàn thư, Bản kỷ thực lục, Kỷ Nhà Lê, bị tòa soạn cắt mất. Thậm chí cắt cả câu nói của Chủ tịch Hồ Chí Minh tôi dẫn ra ở trên. Tôi hỏi, Tòa soạn trả lời là có sự chỉ đạo buộc họ phải làm như vậy mặc dầu họ không muốn.

Ai mà chỉ đạo lạ vậy. Họ có còn là con cháu của Trần Hưng Đạo, Lê Lợi, Nguyễn Trãi, Quang Trung. Hồ Chí Minh nữa không? Sao lại ngăn chặn tinh thần yêu nước của nhân dân, của thanh niên, sinh viên? Liệu Mặt trận có tham gia vào sự chỉ đạo này không? Người của tòa báo nọ giải thích với tôi, đây là sự tế nhị ngoại giao. Có thể có chuyện đó. Hoạt động ngoại giao đòi hỏi sự tế nhị, chuyện đó tôi không dám bàn. Nhưng để cho nhà ngoại giao tế nhị, thì nhân dân lại phải biểu tỏ ý chí của mình để làm hậu thuẫn cho nhà ngoại giao.

Từng tấc đất của Tổ quốc thẫm đẫm máu Việt nam không thể nào để bị cướp mất, trong đó có những tấc đất Hoàng Sa, Trường Sa. Một bà bán rau ngoài chợ hỏi một cách hồn nhiên khiến người đang cầm mớ rau ngỡ ngàng đến sững sờ: "Làm cách nào để biểu tỏ lòng yêu nước đây hở ông, con tôi nó hỏi tôi thế, liệu yêu nước có bị nhắc nhở không". Bác lái taxi hỏi một câu bâng quơ mà khiến người ngồi trên xe hiểu rằng ông ta hỏi mình, cổ cứ tắc nghẹn, lúng túng không nói được ra lời, cho dù là một lời tạ lỗi "thế là mình đành để mất hở ông, làm sao có chuyện đó được, phải dấn mạnh lên thì chúng nó mới chịu lùi chứ". Một ông già dừng xe cạnh tấm biển chỉ tên đường Lê Duẩn, con đường chạy thẳng vào dinh Thống Nhất, nói nhỏ nhẹ với những người đứng cạnh, "thế mới biết ông cha mình giỏi thật, bao nhiêu năm kiên cường giữ nước trong cái thế cái lực kém xa bây giờ". Ông già am hiểu lịch sử ấy nhắc đến việc ông vừa đọc được trên một tờ báo tuần trước câu chuyện một người nước ngoài miêu tả rất thú vị về nước Việt Nam mình: trên bản đồ thế giới hình thể đất nước trông giống như một người nông dân đội nón ở trên đầu, oằn mình dưới sức nặng của cả khối lục địa Trung Hoa từ trên nén xuống khiến cái lưng của Việt nam phải uốn cong để đủ sức chịu đựng lâu dài, và cũng nhằm dồn lực để bật dậy khi cần thiết. Đó là dáng uốn cong của cánh cung để tạo ra sức bật. Và trước khi đạp xe đi tiếp, ông buông một câu: ý dân là ý trời!

Để có Hiệp định Genève 1954, phải có 09 năm kháng chiến và chiến thắng Điện Biên Phủ 7.5.1954. Để có Hiệp định Paris 1973, lại phải có "Điện Biên Phủ trên không" từ ngày 18 đến ngày 29.12.1972. Trước đó 5 năm, cũng vào tháng 12 năm 1967, sau khi nghe báo cáo của Tư lệnh Phòng không-Không quân, Bác nói: "Sớm muộn rồi đế quốc Mỹ cũng sẽ đưa B52 ra đánh Hà nội, rồi có thua mới chịu thua…Nó chỉ chịu thua sau khi thua trên vùng trời Hà nội. Vì vậy nhiệm vụ của các chú rất nặng nề". Và rồi hiện thực lịch sử đã minh chứng cho lời "tiên tri" Bác Hồ. Trong lời "tiên tri" đó, ẩn chứa một nhận định mang tính qui luật: "Chỉ có thể đàm phán khi có thực lực được hậu thuẫn bởi ý chí và sức mạnh được khởi động từ nhân dân”. Và điều này đâu phải là sự khám phá của thế kỷ XX.

Lần mở lịch sử, thấy có sự trùng hợp rất thú vị về "Hội thề Đông Quan" cũng diễn ra vào tháng 12, ngày 10.12.1427, cách nay đúng 580 năm. Hội thề Đông Quan bên bờ sông Nhị đó đã mở đường cho Vương Thông rút quân. Sách Đại Việt sử ký toàn thư chép lời Lê Lợi: "Không thích giết người là bản tâm của bậc nhân đức. Vả lại, người ta đã hàng mà mình giết thì là điềm xấu không gì lớn bằng…chi bằng tha mạng sống cho ức vạn, để dập tắt mối chiến tranh cho đời sau, sử xanh ghi chép, tiếng thơm muôn đời, há chẳng lớn lao sao". Những lời tâm huyết đó chỉ có thể trên cái nền của những chiến công chói lọi mà Nguyễn Trãi đã viết trong "Cáo bình Ngô": "Lấy đại nghĩa thắng hung tàn, Lấy chí nhân thay cường bạo. Trận Bồ Đằng sấm vang chớp giật, Miền Trà Lân trúc chẻ tro bay…Voi uống cạn sông, gươm mài vẹt núi. Đánh một trận sạch không kình ngạc, Đánh hai trận tan tác chim muông…Lạng Giang, Lạng Sơn thây chất đầy đường, Xương Giang, Bình Than máu trôi đỏ nước".

"Là bản tâm của bậc nhân đức", đồng thời cũng là những ứng xử phù hợp với thực tế lịch sử, xuất phát từ vị thế địa-chính trị của đất nước mà cách diễn tả của người bạn nước ngoài về hình dáng của đất nước này trên bản đồ thế giới nêu trên đã giải thích điều ấy. Trong vị thế địa-chính trị ấy, bản lĩnh để tồn tại và phát triển đòi hỏi phải biết học bài học của ông cha, cùng với cái đó, phải biết khai thác những nhân tố mới, rất mới mà thời ông cha ta chưa có.

Lịch sử tồn tại và phát triển của một Việt Nam đất không rộng, người không đông, song với ý chí quật cường, dân tộc này vẫn kiên cường tồn tại. Mà vào buổi ấy, Việt Nam đơn thương, độc mã. Còn ngày nay, Việt Nam là một bộ phận của thế giới, là thành viên của khối ASEAN năng động và ngày càng đóng một vai trò quan trọng trong đời sống quốc tế, là thành viên của WTO, là ủy viên không thường trực của Hội đồng Bảo an LHQ, Việt Nam không hề đơn độc. Chúng ta hiểu mình cần làm gì và phải làm như thế nào để thực hiện nghĩa vụ thiêng liêng bảo vệ độc lập dân tộc, toàn vẹn lãnh thổ, góp phần tích cực gìn giữ hòa bình ở khu vực và thế giới. Trong bối cảnh đó, thực lực của ta không đơn thuần chỉ là sức mạnh kinh tế, quân sự, mà là cái thế chiến lược ta phải khéo vận dụng. Từ thế kỷ XIII, rồi thế kỷ XV, thế kỷ XVII, đơn thương độc mã, ông cha ta đã đánh tan tác thế lực ngoại xâm, không để mất một thước núi, một tấc sông, để lại giang sơn gấm vóc cho chúng ta hôm nay. Lẽ nào, trong thế giới của thế kỷ XXI này, chúng ta lại không biết tận dụng sức mạnh của thời đại để giữ gìn sự toàn vẹn lãnh thổ mà mỗi tấc đất đều thấm đẫm máu ông cha. Máu Việt nam cũng đã đổ ở Hoàng Sa, Trường Sa, mỗi người Việt nam hôm nay không quên điều đó.

May mắn thay, báo Thanh Niên, báo Người đại biểu Nhân dân, tiếng nói đại biểu Quốc hội và Hội đồng nhân dân đăng, tạp chí Tia Sáng đăng. Và rồi gần đây, đọc báo Thanh Niên, báo Tuổi Trẻ, tạp chí Xưa và Nay, báo Đại đoàn kết, tôi thấy đã có rất nhiều bài nói về Hoàng Sa, Trường Sa. Chắc là đã có sự chỉ đạo mới. Tuy vậy, là người của Mặt trận, tôi vẫn nghĩ là tờ báo của Mặt trận ta chưa có tiếng nói đúng tầm về chủ đề quan trọng và nhạy cảm này. Liệu có phải vì điều mà tôi tạm diễn đạt là "hội chứng kiểm điểm để kỷ luật" TBT báo do đăng bức thư của Đại tướng Võ Nguyên Giáp gửi các nhà lãnh đạo về quyết định đập bỏ Hội trường Ba Đình lịch sử, nơi ghi đậm dấu ấn những sự kiện lịch sử liên quan đến Chủ tịch Hồ Chí Minh và các đồng chí lãnh đạo khác, nơi thể hiện ý chí và sức mạnh của quân và dân ta trong sự nghiệp chống Mỹ cứu nước, giải phóng Miền Nam, thống nhất đất nước không?

Kể cũng lạ, tiếng nói tâm huyết của một vị "khai quốc công thần" mà tên tuổi của ông đã đi vào lịch sử, không chỉ của Việt Nam còn là của thế giới, mà còn bị bưng bít đến như thế thì liệu làm sao để kêu gọi, động viên nhân dân phát huy tinh thần làm chủ, tham gia đóng góp ý kiến với đường lối chính sách của Đảng và pháp luật của Nhà nước mà nghị quyết của Đại hội Đảng cộng sản Việt lần thứ X ghi rõ "không những là quyền mà còn là trách nhiệm" của mỗi công dân yêu nước.

Tờ báo của Mặt trận, vì đạo lý dân tộc, vì sứ mệnh của người làm báo mà đến xin phép Đại tướng để đăng bức thư đó lại được chỉ đạo, phải kiểm điểm và kỷ luật. Rất may là Đảng đoàn Mặt trận đã xử lý việc này một cách đúng đắn. Tại diễn đàn này, với tư cách là một ủy viên UBTƯMTTQVN, tôi xin chân thành bày tỏ lời hoan nghênh Báo Đại Đoàn Kết, điều tôi đã có dịp viết trong bài "Một việc đáng trân trọng" đăng trên tờ báo Pháp luật TP HCM ngày 6.12.2007. Xin chân thành cám ơn và hoan nghênh đồng chí Chủ tịch Phạm Thế Duyệt và các vị lãnh đạo khác của Mặt trận đã có sự xử lý thỏa đáng việc này.

Xin chân thành cám ơn đã cho tôi phát biểu ý kiến thẳng thắn mà không bị cắt giữa chừng, xin cám ơn các cụ và các vị đã chịu khó nghe.

Friday, 21 March 2008

Cơn ác mộng trước thềm Olympic

Jürgen Kremb

Tây Tạng: Dải Gaza của Trung Quốc

Trần Kh. dịch


Những gì xảy ra trên đường phố của Lhasa không phải là sản phẩm của "những kẻ đòi ly khai", mà là hệ quả của một chính sách lầm lạc. Nếu Trung Quốc còn muốn cứu vãn kỳ Thế vận hội sắp đến thì không thể cứ tiếp tục tuyên truyền kiểu cộng sản, mà phải bằng đối thoại. Đức Đạt Lai Lạt Ma hiển nhiên là một đối tác thích hợp hơn cho việc này, chứ không phải là những nhóm thanh niên Tây Tạng sẵn sàng bạo động.

Xe tăng trên đường phố Lhasa, những chiếc ô tô bốc cháy trên "mái nhà của thế giới" và hàng ngàn quân lính với những nòng súng sẵn sàng nhả đạn tìm cách tái lập sự yên bình bằng bạo lực của khí giới, cứ như thể Trung Quốc đã biến thành một nước "cộng hoà chuối" (banana republic) đang trên đà đổ sụp. Thêm vào đó là một số người bị thiệt mạng còn chưa được xác định ở cả hai phía. Đấy hẳn nhiên không phải là hình ảnh một Trung Quốc đang nổi lên như một tân cường quốc kinh tế mà Bắc Kinh đang muốn trình ra với thế giới trước kỳ Thế vận hội 2008, sự kiện được họ xem như là một lễ hội của thế kỷ.

Không, đấy quả là một cơn ác mộng. Trước nhất là cho những con người đang sống ở đấy, trong những ngày sắp tới, họ phải tính đến chuyện có thể rồi sẽ bị lôi ra khỏi nhà, sẽ phải nhận lãnh những bản án xấu nhất cũng như những đòn thù tra tấn. Chẳng còn ai nghĩ rằng chính quyền Bắc Kinh muốn tôn trọng nhân quyền trước kỳ Thế vận hội.

Trước khi ngọn đuốc Olympic được truyền đi trên đường phố Lhasa và theo dự định, sẽ còn được đốt lên trên đỉnh Everest vào quãng cuối tháng Tư, đầu tháng Năm, thì có lẽ các thẩm phán Trung Quốc đã tuyên đọc xong những bản án tử hình đầu tiên cho một số người tham gia các cuộc biểu tình.

Và đối với những viên chức thuộc ban Tổ chức Thế vận hội cũng như các chính trị gia Trung Quốc, những kẻ rất mong muốn được tắm mình trong vinh quang và hào quang toả chiếu từ những cuộc tranh tài thể thao sạch sẽ và "phi chính trị", thì những gì đang diễn ra ở Tây Tạng cũng là một cơn ác mộng kinh khủng nhất cho họ.


Hai mươi năm hoang phí

Những trò đổ lỗi cho nhau bây giờ chẳng có ích cho ai. Thay vào đó phải là sự ý thức và nhìn thẳng vào thực tại. Trên thực tế thì xung đột Tây Tạng là một vấn nạn chính trị và những gì diễn ra hiện nay ở đấy là hậu quả phải gánh chịu cho việc Bắc Kinh và chính quyền lưu vong Tây Tạng đã để 20 năm trôi qua một cách phí hoài mà không tìm ra được một giải pháp nghiêm túc và hoà bình nào cho những vấn đề của họ.

Lần cuối cùng cả hai phía có những cố gắng hoà giải là vào đầu những năm 80. Lúc bấy giờ, với sự đồng ý của chính quyền Trung Quốc, Đức Đạt Lai Lạt Ma đã cử tổng cộng ba phái đoàn về Tây Tạng, gồm những họ hàng thân thích của ông, những chính khách lưu vong và những sư sãi thuộc hàng lãnh đạo Phật giáo. Đoàn nào về cũng gây ra một sự xáo động trên "mái nhà của thế giới".

Dân chúng đã bật khóc và tường thuật về những khổ nạn không thể nào kể xiết, về những vi phạm nhân quyền thô bạo nhất mà họ dã chịu đựng trong thời kỳ Cách mạng Văn hoá (1966-1976), về âm mưu diệt chủng và việc huỷ hoại nền văn hoá Phật giáo cao quí của họ. Theo nhiều nguồn ước đoán khác nhau thì con số người Tây Tạng đã chết bởi quân chiếm đóng Trung Quốc cũng như qua các chiến dịch chính trị diễn ra tại đấy có thể lên đến 1 triệu 200 ngàn người, tính từ thời điểm Đức Đạt Lai Lạt Ma đã phải rời bỏ quê hương của mình vào tháng 3 năm 1959.


Ngôn ngữ tuyên truyền cộng sản lỗi thời

Bắc Kinh đã hoảng hốt vì không lường trước những chuyện đó và từ đấy đã tránh né mọi cuộc đối thoại. Với những khẩu hiệu của thời cộng sản "tiền sử", bất kỳ hình thức biểu tình nào, ngay cả những cuộc biểu tình của các sư sãi Phật giáo, cũng bị đàn áp và miệt thị là những "cuộc bạo loạn của đám côn đồ". Đức Đạt Lai Lạt Ma - qua ngôn từ thô thiển bốc ra từ chiếc rương đã mục ruỗng của phương cách tuyên truyền cộng sản - thì trở thành một "bàn tay đen đúa" hoặc "một kẻ đòi ly khai đang âm mưu chia cắt đất nước". Những lời mời từ phía chính quyền Trung Quốc hướng đến Đức Đạt Lai Lạt Ma, rằng ông và chính quyền lưu vong của ông có thể hồi hương, nhưng với điều kiện là phải sống ở Bắc Kinh chứ không phải tại Tây Tạng, đã cho thấy rõ Đảng Cộng sản Trung Quốc thực tâm tới mức nào với lời mời của họ. Ngay đến cả việc lưu giữ hình ảnh Đức Đạt Lai Lạt Ma cũng bị trừng phạt.

Trong thực tế thì những nhân vật ở Trung Nam Hải, trụ sở của Bộ Chính trị Đảng Cộng sản Trung Quốc, hoàn toàn không quan tâm đến một giải pháp khả dĩ có thể chấp nhận bởi hai phía cho cuộc xung đột này. Bắc Kinh dựa vào khối dân số khổng lồ của họ, mưu đồ đè bẹp Tây Tạng bằng hình thức đồng hoá và chính sách định cư dân Trung Quốc. Từ nhiều thập niên nay, chính quyền Trung Quốc đã khuyến khích cán bộ, nông dân và thợ thuyền của họ đến lập nghiệp ở đấy, nơi mà người Tây Tạng đã từng một thời là sắc dân chiếm đa số.

Điều này không chỉ diễn ra trên vùng đất có tên "Khu vực Tự trị Tây Tạng", mà còn ở những tỉnh lân cận như Thanh Hải (Qinghai), Cam Túc (Gansu) và ở những vùng ven của tỉnh Tứ Xuyên (Sichuan), tất cả đều là nơi sinh sống hiện nay của gần 6 triệu người Tây Tạng. Cao điểm của chính sách này là việc xây dựng đường xe lửa đến Lhasa, được khánh thành cách nay ba năm. Điều thoạt tiên có vẻ như không có gì tệ hại này - bởi nhờ đó mà sự phồn vinh phát sinh từ những cải cách kinh tế cũng đến được với những vùng kém phát triển - rốt cuộc đã làm cho dân bản xứ trở thành những kẻ thiểu số ngay trên chính quê hương mình.


Đức Đạt Lai Lạt Ma thiếu một tầm nhìn xa về chính trị

Điều đáng tiếc là trong chiều ngược lại, Đức Đạt Lai Lạt Ma cũng đã bỏ lỡ nhiều dịp để đáp trả lại những điều ấy bằng những hoạch định chính trị thích ứng. Cũng phải thừa nhận rằng, với tư cách là một chính trị gia lưu vong và đồng thời cũng là một nhà tu hành chỉ có thể dùng phương pháp đấu tranh bất bạo động, thì ông cũng không có nhiều khả năng để lựa chọn. Nhưng dù ông có nổi tiếng như một kiểu "Pop star của sự quán tưởng và trầm tư" chu du cùng khắp thế giới, thì trong thực tế ông đã không mấy thành công trong việc đề ra một viễn cảnh chính trị cho tương lai dân tộc mình.

Đúng là kể từ giữa những năm 80, ông đã thôi không còn đòi hỏi một quốc gia độc lập cho quê hương bị chiếm cứ của mình. Điều mà vị lãnh tụ tinh thần của Tây Tạng mong muốn chỉ còn là một "quyền tự trị và độc lập văn hoá", như Mao Trạch Đông đã hứa hẹn với ông sau cuộc chiếm đóng năm 1951.

Nhưng cũng còn một sự thực khác, đấy là việc chính quyền lưu vong của ông vẫn còn mãi loay hoay với những ý niệm ám bụi lỗi thời, chẳng hạn như câu hỏi liệu nước Tây Tạng cũ trước khi bị Trung Quốc xâm chiếm đã từng là một quốc gia độc lập hay chỉ là một vùng đất nằm dưới sự thống trị của một Trung Quốc bá chủ. Điều khiến cho Trung Quốc thêm ngờ vực là Đức Đạt Lai Lạt Ma - mặc dù không dính dáng trực tiếp - nhưng hầu như vẫn được xem như là lãnh tụ của tổ chức có tên "Phong trào Vận động Tự do cho Tây Tạng" ("Free Tibet Campaign"), một phong trào đòi tự do và độc lập cho Tây Tạng.

Có thể chuyện đòi hỏi tự do cho Tây Tạng - như đã xảy ra với Kosovo và Đông Timor - là một điều đáng để ao ước. Nhưng vấn đề là tự do trong dạng vẻ nào? Như một Đông Timor nghèo đói và chìm đắm trong hỗn loạn, nơi mà ngay cả một người đã lãnh giải Nobel Hoà bình như Ramos Horta cũng chẳng còn thấy an toàn và được che chở? Hay là nên trở thành một kiểu "vườn bách thú-sắc tộc" Phật giáo, một địa điểm phục hồi sức khoẻ với bầu khí trong lành cho những người phương Tây và những ngôi sao Hollywood đã mỏi mệt với nền văn minh cơ giới? Đấy có thể là một ý tưởng tuyệt vời.

Tiếc rằng những thứ ấy chẳng ăn nhập gì với những chính sách dựa trên các khả năng và điều kiện thực tế. Trung Quốc sẽ chẳng bao giờ đồng ý trao trả độc lập cho Tây Tạng. Nước "Cộng hoà Nhân dân Trung Hoa" cộng sản - bấy lâu nay đã bước vào quá trình xoá bỏ những ràng buộc ý thức hệ - không tán thành điều này. Và cường quốc mang màu sắc dân tộc chủ nghĩa có tên gọi là "Nước nằm ở Trung tâm" - hiện đang toan tính thống trị cả tương lai châu Á - cũng không nốt. Và một nước Trung Hoa dân chủ - dần hình thành qua giao dịch kinh tế và thương mãi - trước sau vẫn chỉ là ảo tưởng của những kẻ mơ mộng ở phương Tây. Đối với Trung Quốc, Tây Tạng là "chuyện nội bộ" mà họ nhất định không cho phép ai xía mồm vào. Chính sách nhân quyền tồi tệ của siêu cường quốc Hoa Kỳ trong cuộc chiến đấu chống khủng bố hiện nay chỉ làm cho Bắc Kinh cảm thấy dễ dàng hơn trong việc tiếp tục duy trì đường lối cứng rắn của họ.

Vấn đề là: Trung Quốc phải hiểu rằng, trong một thế giới đã toàn cầu hoá thì chẳng còn có cái gọi là "những vấn đề nội bộ thuần tuý dân tộc". Người ta không thể muốn bay lên mặt trăng và đồng thời vẫn cứ khư khư bám vào những khái niệm về chủ quyền của thế kỷ thứ 19. Lhasa đã trở thành dải Gaza của Trung Quốc từ lâu rồi. Trên đường phố cũng như trong các chùa chiền, tiếng nói của những người ủng hộ Đức Đạt Lai Lạt Ma không còn là tiếng nói chủ đạo, mà chính là tinh thần của tổ chức "Nghị hội Thanh niên Tây Tạng" ("Tibetan Youth Congress").

Đấy là một nhóm người Tây Tạng lưu vong cực đoan, họ đã không còn đi theo đường hướng của Đức Đạt Lai Lạt Ma từ nhiều năm nay. Họ cho rằng con đường đấu tranh hoà bình của ông chẳng thể nào mang lại tự do cho quê hương, và dân Tây Tạng phải đi theo con đường của những phong trào giải phóng khác, như người Palestine và người Đông Timor.


Những kế hoạch đầy kịch tính cho Thế vận hội

Không phải Đức Đạt Lai Lạt Ma đã khiến cho vai trò của những thanh niên đầy giận dữ này trở nên quan trọng, mà chính bởi Trung Quốc không chịu thực tâm tìm kiếm một giải pháp chính trị cho Tây Tạng. Cũng giống như những đứa con của dải Gaza, lớp trẻ chống đối này thành hình là do chính sách đàn áp văn hoá và bị cô lập về mặt xã hội. Họ từ khước sự chỉ đạo của bất kỳ một kiểu "bề trên" nào. Và như thế, cái toan tính khởi thuỷ của những người cộng sản, là cứ đơn giản ngồi chờ cho đến lúc Đức Đạt Lai Lạt Ma qua đời thì vấn đề tự động sẽ được giải quyểt, đã bị những người theo xu hướng cực đoan này phá hỏng.

Và trên thực tế tiềm năng của lớp thanh niên cuồng nhiệt này còn rất lớn. Trong những tuần vừa qua, chính những cuộc tuần hành phản kháng từ Ấn Độ đi về hướng biên giới do họ tổ chức đã hâm nóng những cuộc biểu tình chống đối tại chính Tây Tạng. Nếu giới lãnh đạo Bắc Kinh tin rằng họ có thể dùng những biện pháp đàn áp thô bạo của lực lượng an ninh để ngăn chặn những thất bại có thể xảy ra trên mặt tuyên truyền đại chúng cho Thế vận hội, thì điều ấy chỉ làm lộ rõ rằng óc tưởng tượng của họ quả là quá nghèo nàn. Bởi liệu các ông các bà trong Bộ Chính trị sẽ xử sự như thế nào, khi hình ảnh của một nhà sư Tây Tạng tự thiêu trên sân cỏ Olympic Bắc Kinh được quay phim và phát tán đi khắp thế giới? Đấy là một chi tiết trong kịch bản được dự tính bởi lớp trẻ Tây Tạng đang nổi loạn.

Chìa khoá để giải quyết vấn đề nằm trong tay chính quyền Bắc Kinh, và họ không được phép chậm trễ. Trong những tuần lễ tới, áp lực quốc tế về việc tẩy chay Thế vận hội sẽ gia tăng, có thể trở thành một tai hoạ cho thể diện của Trung Quốc. Và đấy không phải chỉ là một thảm hoạ cho ban Tổ chức Thế vận hội, mà còn là cho tất cả các phía tham dự

Nếu muốn "Olympia Beijing 2008" không mang dư vị của "Berlin 1936", thì chủ tịch Đảng Cộng sản Trung Quốc Hồ Cẩm Đào phải tìm những giải pháp khác với những gì mà ông đã quen làm. Không phải là giải pháp sắt đá, mà phải là sự xuống thang hoà hoãn. Không phải là tiếp tục tuyên truyền ngu xuẩn, mà phải là đối thoại. Cái luận cứ rằng thể thao chẳng liên quan gì với chính trị hẳn là không còn dùng được.


Đức Đạt Lai Lạt Ma trên khán đài danh dự

Một bắt đầu tốt đẹp cho sự thay đổi này có thể là việc cho phép những quan sát viên quốc tế có mặt trong những phiên toà xử những kẻ bạo động ở Lhasa. Cũng như cần phải có những cuộc điều tra công khai, chẳng hạn việc trả lời câu hỏi là quân đội đã có nã đạn vào những thường dân phản kháng hay không, hay chỉ có việc người Trung Quốc định cư tại đấy bị giết bởi những kẻ đi biểu tình. Cả hai trường hợp, nếu có, đều phải bị đem ra xét xử.

Và nếu Trung Quốc thực sự là một cường quốc yêu chuộng hoà bình, thì thử hỏi có điều gì ngăn cản Bắc Kinh và chính quyền lưu vong Tây Tạng cùng bước vào một cuộc đối thoại thực sự để giải quyết các vấn đề của họ, trước khi Thế vận hội diễn ra. Không, một cuộc đối thoại, nếu có, không nên tổ chức ở Bắc Kinh, mà phải trên một phần đất trung lập. Nó cũng không nên diễn ra ở Washington hay Moskva. Jakarta hoặc Stockholm hẳn là những địa điểm thích hợp hơn. Hoặc cũng có thể là Genève, nơi đặt trụ sở của Uỷ ban Thế vận Quốc tế. Tất cả những điều này đòi hỏi sự thực tâm và sẵn sàng của một nước Trung Quốc đổi mới đã tháo bỏ mọi định kiến. Thật ra đấy cũng không phải là điều quá khó, bởi vì đấy chính là nước Trung Hoa mà những người tổ chức Thế vận hội 2008 ở Bắc Kinh muốn trình ra với thế giới. Với một điểm khác biệt, Đức Đạt Lai Lạt Ma được mời an vị trên khán đài danh dự. Nếu điều này xảy ra thì Trung Quốc sẽ nhận được sự kính trọng của toàn thế giới.


Bản tiếng Việt © 2008 talawas

Cao 4000m trên mực nước biển, Tây Tạng được coi là Roof of the World

Tuesday, 18 March 2008

Biến động tại Tây Tạng, phản ứng của cộng đồng thế giới...

Một số hình ảnh tại thủ phủ Lhasa Tây Tạng những ngày qua của hãng tin Reuters, AP...
Photo
Photo
Photo
Photo
Vị lãnh tụ tinh thần của nhân dân Tây Tạng, Đức Dalai Lama hiện phải lưu vong tại Ấn Độ
Người Tây Tạng lưu vong cùng những người ủng hộ cho nền độc lập của TâyTạng trên khắp thế giới đồng loạt biểu tình rầm rộ

Wednesday, 27 February 2008

Chuột và hoa hồng




users online

Chuột kêu rúc rích trong rương
Anh đi cho khéo đụng giường, mẹ la...
(ca dao, tục ngữ)

Tháng giêng là tháng Tí, nói chuyện con chuột.

Đã lâu, cũng đến vài năm, có lúc trong nhà tôi nuôi cả cặp mèo, nhưng dưới cái gầm bếp, mớ bẫy lò xo rỉ sét đỏ quánh cứ nằm đó, chờ … Đôi lúc dọn dẹp nhà cửa, tôi phân vân, hay là vứt đi.... biết đâu lúc nào lại cần đến, thấy tiếng tiếc thế nào…hơn nữa mớ bẫy kia luôn nhắc tôi, nhờ nó mình đã từng lập nên kỳ tích đáng nể: Chỉ trong một đêm, có đến mười một con chuột bị bỏ xác.

Ngày đó, khi còn đang làm ở môt cửa hiệu nho nhỏ, có đến bốn, năm bộ đồ tắm đắt tiền cùng một số áo đầm voan trẻ con đã bị lũ chuột xơi tái. Cơn giận ấy lên đến đỉnh điểm, tôi chỉ phát hiện được khi lấy hàng ra cho khách thử. Mỗi món bọn nó gặm vài lỗ, to bằng ngón chân cái, rải rác khắp nơi, có cái thật oái oăm, chúng lựa đúng ngay "mặt tiền" món đồ mà khoét, thế là vô phương cứu chữa!

Tiếc của đến giận xám mặt, ghét cay ghét đắng lũ chuột, tôi đem gom hết kiến thức, kinh nghiệm…, cùng con bé phụ việc, cô cháu cất công, mày mò chế mồi, rồi thức đêm cùng mấy cái bẫy, nhẹ nhàng một, rồi hai con trong đêm đầu ra quân, để rồi đêm sau lập được cái kỳ tích hốt ‘trọn gói’ bầy chuột khốn ấy. Thực ra có thể chúng vẫn còn nhiều, nhưng do bị “động” chúng nghe ngóng nên quyết định di dời, bầy đàn rủ nhau kéo đi nơi khác sinh sống, phát triển giống nòi, trả lại cho cửa hàng tôi sự bình yên ngày nào.

Ngọn nguồn là thế này, từ nhỏ, khi còn ở bậc tiểu học, đã được thấy bố tôi bẫy chuột. Ông bảo chuột là loài tinh khôn và ranh mãnh đến thượng hạng. Ông kể cho con cái nghe những giai thoại xưa, nay quanh loài vật này…, chúng có trí khôn không kém gì con người. Chúng có kiểu ăn cắp trứng rất độc chiêu, một con nằm ngửa ôm quả trứng gà trên bụng, con còn lại nắm đuôi kéo con ôm trứng, cứ thế chúng rinh cho bằng hết ổ trứng của chị gà mái về hang... Ngoài ra, chúng còn hiểu được cả tiếng người, thế nên người ta bảo rằng chớ có chửi chuột, kể cả kiểu chửi đông đổng hay chửi bóng gió gì nó hiểu sất ! Rằng chớ nên gọi “con chuột” mà phải gọi nó bằng “ông Tí”, kẻo nó có tính thù dai, sẽ tìm ra những gì quý giá nhất trong nhà mà cắn phá, cắn cho đến nát bét, phàm đã bị chuột cắn phá món gì thì y rằng sự xui xẻo cứ theo hết năm nọ sang năm kia, đến ngóc đầu dậy không nổi!!…A, cái giống chuột hôi hám, hình dạng loắt choắt, đen thủi đen thùi vậy mà xem ra có nhiều quyền lực với người ta ra phết!

Năm ấy, cách nay đã quá lâu. Một tối mùa hè trên vùng cao nguyên, tôi và bà chị cả chui vào mùng ngủ. Lúc ấy không hiểu chị em tôi giắt mùng kiểu gì, bỗng đang đêm tôi thấy có gì làm mình đau đau, nhưng làm trẻ con chỉ mải ngủ nên đến sáng ra, thức dậy, thấy mấy đầu ngón chân sao rát ơi là rát. Quỷ thần ơi, có đến 2 đầu ngón chân tôi đã bị chuột gặm, đến rươm rướm máu, còn thấy rõ dấu răng chuột cạp để lại trên da non. Bà chị cả tôi cũng hớt hải kêu đau như vậy. Thật quá thể, lúc đó đâu biết gì là xui với hên, nhìn mấy ngón chân chị em bị chuột gặm tôi thấy ghét chuột, ghét nhất trên đời. Bây dám cả gan chui vô tận giường, biến mấy ngón chân người thành món phô-ma khoái khẩu...

Lúc ấy tôi còn có cảm giác sợ hãi khác, tôi lo, sợ không biết loài chuột gớm ghiếc kia có truyền vào tôi cái mầm bệnh dịch hạch nguy hiểm như người ta nói không…

Sau khi biết sự việc, bực tức vì bị lộng hành, bố tôi dặn mẹ lo mồi. Ngày sau ông nghe ngóng động tĩnh, xem xét đường đi lối về của chúng. Ông ra ra vào vào mấy góc nhà, bắc hẳn cái thang trèo lên sát nóc nghe ngóng, ông nói tiếng chuột kêu dày thế kia nhất định dân số chúng đang phát triển vù vù…Sau khi xác định "bộ chỉ huy chuột" đóng trên cái trần carton Mỹ dày cộp kia rồi, ông mới tính toán đặt bẫy, chỗ này, chỗ này..

Tối hôm sau, lúc cả nhà gần đi ngủ, ông bắt đầu vào cuộc. Có tới 2 cái bẫy mới mua về. Tôi thấy hồi hộp xen lẫn sợ hãi khi lần đầu tiên nhìn ông gài bẫy. Trước hết ông kéo mạnh, ngược hẳn ra phía sau cái khung sắt cứng nằm áp sát dãy sườn nhọn hoắt, lởm chởm, ông bảo là nơi sẽ nghiến chặt cái đầu, cái cổ hoặc cái bụng, làm cho con chuột tắt thở, hộc máu mồm, dồn máu mũi chỉ sau vài giây vùng lên, vật vã trước khi về chầu trời…

Gắn miếng mồi vào cái móc cho chặt, tra cọng thép là cái cần tự động vào chốt, thử xem, một tiếng phập thật mạnh, cái bẫy hung hãn giật tung nằm quay lơ trên nền nhà, tốt rồi!...Ông làm lại một lần nữa rồi nhẹ nhàng nín thở đặt bẫy vào nơi định sẵn. Suỵt! Khẽ thôi, rồi ông dặn dò bọn tôi lưu ý kẻo có đứa nào làm sập bẫy, nguy hiểm vào tay chân, lại phaỉ đi chích ngừa vi trùng Tetanos.

Sáng sớm hôm sau, cái chân còn đau rát nhưng khi nghe giọng bố tôi kêu to, tôi bật dậy “A, chuột dái đây… hừm, tới số rồi con ơi… đợi đấy tao tính sổ từng đứa…” Chẳng kể gì bố tôi, chiến lợi phẩm đó làm cho cả nhà được dịp hả hê. Cầm hai cái bẫy lủng lẳng xác chuột chết đen ngòm ra sau vườn, ông nói đem đào lỗ chôn vậy một thời gian để rồi làm phân bón, rất tốt cho mấy gốc hồng Đà Lạt. Lúc ấy tôi muốn nhắc sao bố tôi không nói nho nhỏ kẻo bầy chuột nó thù dai…

Hôm sau lại được tiếp thêm 2 chú, một con nhơ nhỡ và một con nhỏ hơn, tôi thấy ông phấn khởi, vui vẻ hẳn ra... sau hai đêm mà được đến những bốn mạng "ông Tí" còn gì!

Những ngày sau đó, bầy chuột dường như bị đánh động, có lẽ thủ lĩnh kiểm tra thấy thiếu vắng hẳn quân số nên ra luật cảnh báo, giới nghiêm… tiếng chuột kêu không còn mấy, ít dần rồi từ từ im ắng hẳn. Người và chuột lúc này đều căng thẳng vì cả hai như đang cùng rình rập nhau...

Phập…Thêm được một chú nữa tới số, cả trước cả sau là năm mạng!

Ngày lại ngày trôi qua...Bố tôi không còn phấn khích như lúc đầu nữa rồi. Hình như đến cả tuần lễ, mười ngày nay vẫn chưa thấy ông được thêm con nào thì phải... Chờ mãi vẫn không thấy tiếng bẫy sập, vài hôm sau đó ông lẳng lặng lôi ra, tháo chốt. Miếng mồi béo kia đã hết hồi linh ứng, mặc dù mẹ tôi cất công thay hẳn kiểu mồi khác, thơm nức, hòng khêu gợi cái bao tử đói của chú choắt nào đó sơ sểnh. Buồn thật, chỉ thấy lũ kiến đỏ thi nhau đục miếng mồi đến gần hết, chỉ còn lại chút rẻo khô khốc, cong queo. Ông dăn khi bẫy chuột, nếu nghe tiếng bẫy sập ta phải thức dậy ngay, xoá hẳn dấu, kể cả vết máu trên bẫy cũng được rửa sạch. Chớ nên để bọn chúng nhìn thấy những cảnh tượng đồng loại bị phơi xác thảm hại, đừng hòng bẫy tiếp được con khác…Lúc ấy tôi thực sự thấy khâm phục những hiểu biết về loài chuột của bố mình.

Một thời gian sau, ông xin ở đâu được con mèo mới lớn, lông mướt rượt mang về nuôi, bảo để rồi nó sẽ bắt chuột. Chị em tôi mừng lắm, thi nhau đặt tên, suốt ngày vuốt ve, ôm ấp…Được vài hôm đã quen quen, chưa thấy thể hiện chút tài cán gì, bỗng ở đâu bầy mèo đực kéo đến, kêu ngao ngaó, vật nhau uỳnh uỵch trên chái bếp cả đêm, sáng hôm sau thì cả nhà đều biết, cô nàng Juliet mèo đã ra đi theo tiếng gọi của trái tim thổn thức. Bố tôi bực dọc bảo sẽ tìm con mèo khác, nhất quyết là mèo đực chứ không nuôi mèo cái nữa.

Nghe ông nói chị em chúng tôi mừng rơn, nhưng chờ, mãi vẫn không thấy ông mang về con mèo đực nào như ông nói. Chúng tôi cũng không bao giờ còn thấy cảnh, chuột phiêu lưu vào tận giường mình để tìm thức ăn thêm lần nào nữa…

Vườn nhà tôi năm ấy, hoa hồng Đà lạt đà hé nụ, thắm màu, rung rinh trong nắng sớm…

Friday, 15 February 2008

Đường về La Mã




users online

Trải qua cuộc đời với nhiều biến cố, từ một anh trai làng dắt díu một vợ một con vào Nam sinh cơ lập nghiệp, cha tôi đi lính từ thời TT Diệm, qua đến TT Thiệu, rồi cuộc đời binh nghiệp của ông tất cả đột ngột kết thúc vào đúng tháng 3 năm 1975, năm ấy ông chỉ mới 46 tuổi, cái tuổi trẻ hơn tuổi tôi bây giờ

Vào năm thủ tướng Khải sang Mỹ, ông đã 77 tuổi, cha tôi ngấm bệnh nặng hơn chục ngày, không còn tha thiết gì đến tin tức thời sự trên BBC nữa, đó là phương tiện và cũng là thói quen hằng ngày, duy nhất suốt mấy mươi năm, kể từ khi vào Nam bằng con tầu há mồm lịch sử năm xưa, vì thế khi tôi nói cho ông biết "Phái đoàn của VN sang Mỹ đông nhất, quan trọng nhất từ ngày giải phóng..." ông thở mệt nhọc và chỉ gật gật đầu...Bệnh càng lúc nặng thêm, thế rồi ông mất sau đó quãng hai mươi ngày, ngày 18 tháng 7 năm 2005.

Nhắc đến Ban Việt Ngữ đài BBC, tôi nhớ lúc còn nhỏ, độ 5 hay 7 tuổi gì đó, cha tôi được Đài gửi tặng một tấm ảnh trắng đen, khá lớn, in thật rõ nét trên loại giấy ảnh dầy và đẹp, hình ảnh các cô chú trong Ban biên tập Việt ngữ độ 5 hay 6 người nay tôi đã quên mất vài người, chỉ còn nhớ được tên chú Xuân Kỳ, Đỗ Văn..., chắc hẳn họ cũng đã nghỉ hưu từ đôi chục năm trước... tấm ảnh thời đó ông rất quý nên đặt vào một khung gỗ, có lồng kính treo trên tường ngoài phòng khách trong nhiều năm, và rồi nó cũng đã lưu lạc theo chiến tranh, sau cuộc di tản đầu tiên, từ vùng cao nguyên những tháng đầu của năm 75.

Người thân quen thường thấy ai từ Bắc di cư vào Nam rồì đến thời kỳ sau năm 75, họ thường vẫn đùa câu quen thuộc là "Chạy trời đâu cho khỏi nắng", cha tôi cũng thường gặp nhiều người nói mình kiểu như vậy. Một nách 7 đứa con, mang cái lý lịch dán thêm chữ "ngụy", hai bàn tay không, nhà cửa chẳng có nên ông đăng ký đi Kinh tế mới (KTM). Ai đến vùng KTM này gặp ngay cái cổng to, 2 bên 2 trụ gạch có ghi hàng chữ, lạnh tanh

Bàn tay ta làm nên tất cả
Có sức người sỏi đá cũng thành cơm

Sau này tôi mới biết đây chính là vùng KTM đầu tiên của cả nước. Ở đấy, một nơi nước độc rừng thiêng, khỉ ho cò gáy...Rồi người ta chở đến một đoàn xe cùng những con người biết từ chối cuộc sống phố phường. Năm tháng trôi đi, bao giọt mồ hôi người người đổ xuống, núi đồi, đá sỏi hoang vu, gai và cỏ dại um tùm, làm thành nơi để sinh sống, trồng trọt để tồn tại, nhọc nhằn gian nan, thiếu thốn không thể nào kể xiết... Không ít người đã bỏ mạng, đầu hàng, hoặc bằng nhiều cách khác nhau, họ từ từ rời bỏ chốn ấy, chỉ còn lại một số trong đó có gia đình tôi. Cha tôi vẫn kiên trì, ông bảo ở đâu cũng thế thôi, hãy cắn răng mà làm...

Ngày ấy, cái phương tiện để theo dõi tin tức thời sự của ông vẫn luôn là chiếc radio đem theo bên mình, ngay cả khi di tản bị lạc trong cánh rừng rậm gần Tuy Hoà năm 75 đó vẫn còn, trông cũ kỹ, sứt sẹo và méo mó nhưng nó thực bền bỉ hơn người ta tưởng nhiều. Còn cái ông vẫn cần nghe hàng ngày thì bị thay tên, nói cho gọn lại họ gọi là "đài địch", họ gọi thế và chẳng ai cần nghe ông giải thích rằng ông không thể bắt đầu một ngày bằng việc không được nghe tin...rằng ông đã biết nghe nó từ lúc ông còn là một thanh niên cường tráng. Nên để được có những tin tức mới trên thế giới hàng ngày, các bài bình luận, được nghe phỏng vấn tướng tá SG hiện sống bên Mỹ...mà đôi khi làm ông phấn khới ra mặt, ông dặn bầy con cách tốt nhất để nghe được đài hằng ngày là mở thật khẽ, chỉ vừa đủ nghe và biết tắt ngay máy khi có người lạ vào nhà.

Tôi nhớ mang máng lúc ấy đài BBC phát một ngày 3 buổi, hình như là vào 6h sáng, 6h30 và 9h30 tối. Ngày ngày, sau hai buổi lao động nhọc nhằn, cơm nước xong xuôi là trời chập choạng tối, bên ánh đèn dầu leo lét, đoạn nhạc hiệu trầm hùng của đài BBC nổi lên, nghe nhiều nên anh em tôi đều thuộc nằm lòng. Cả nhà tôi vây quanh chiếc radio nhỏ, tuy chưa biết quan tâm đến thời sự chính trị, nhưng thói quen của ông dần dà trở thành thú vui duy nhất của gia đình tại vùng quê hẻo lánh.

Hôm ấy có một việc làm ông băn khoăn lo lắng. Ông nghe phong phanh có một người ở thôn trên, lén mở nghe "đài địch", bị ông bí thư tên Đàn mới đổi về, vốn là một tay đặc công chuyên nghiệp, phát hiện và bắt được quả tang tại chỗ.., nạn nhân sau đó bị đem ra xã, làm bản kiểm điểm, bị phạt mất bao nhiêu ký lúa, phải viết giấy cam kết...

Từ đó ông dặn con cái cấm đứa nào được mở "đài địch" nghe khi không có ông ở nhà. Ông cũng nói nhiều về thành tích của tay bí thư mới này, tính soi mói và thâm độc của gã dần dà khiến nhiều người e dè sợ sệt ra mặt, gã ta còn có thể đi trong đêm tối như mực chẳng cần đến đèn pin mà vẫn khẽ khàng như một con báo, gã có thể "tàng hình" vào đến tận xó nhà người ta mà chưa bị ai phát hiện... Tụi tôi nghe thế được phen xanh mặt vì sợ, sợ có lúc nào đó tay chuyên rình trộm này ghé vào nhà mình, rồi việc gì sẽ xảy ra sau đó... Sau này, cái cảnh quây quần quanh chiếc radio không còn nữa, ba tôi đã gửi mua chiếc ecouteur(tai nghe) gắn hẳn vào tai để nghe một mình cho an toàn còn các cánh cửa được cài chặt mỗi khi đến giờ, có tin gì quan trọng ông kể cho vợ con nghe lại sau đó.

Sau gần mười năm "chiến đấu" ở vùng kinh tế mới, lớn dần lên rồi anh em tôi mỗi người một tay, cố gắng chèo kéo cả gia đình trở về thành phố, chỉ còn sót cô em gái trót lấy chồng trên ấy, nhà lại ở gần nhà tay bí thư "ác ôn" xưa. Nhiều năm thao túng, khiến lắm người phải xiêu điêu với chức Bí thư của ông, nghe nói sau khi về hưu, ông ta nát rượu, bét nhè, cái cảnh sáng xỉn chiều say nên vợ con chán rồi bỏ mặc, một bà giá nọ cám cảnh ông nên "đậu gạo nấu cơm chung"cũng được đến chục năm rồi. Sau bao nhiêu năm ra sức cống hiến cật lực, giờ đây tháng tháng ông lĩnh gần hai triệu lương hưu, dư sức mình ông cơm ngày ba bữa có thịt cá đề huề cộng thêm vài xị rượu đế...

Hôm giữa năm vừa rồi, cô em gái gọi điện bảo nhờ chị đến thăm ông bí thư Đàn, bị thổ huyết nằm trong bệnh viện, tôi y lời đến thăm ông, lần đầu tiên được dịp gặp con người ấy bằng xương bằng thịt, ông nói giọng trọ trẹ một vùng quê ở Nghệ Tĩnh, nghe nói sau đó ông khoẻ lại rồi về nhà.

Mấy ngày tết Mậu Tý vừa qua, cô em gái về chơi bảo ông Đàn bị tai biến và đi hôm trước tết rồi. Em tôi kể hôm ấy ông kêu nhức đầu, mặt tím tái, muốn đi nằm, bà vợ hờ hối hả kêu người đến cắt lể, xong ông đòi uống rượu, cầm nguyên chai ông "đệm" một hơi quá nửa, sau đó ông nằm rồi "đi êm", chẳng chút đau đớn cực nhọc gì. Tôi nghĩ bụng, vậy là dưới suối vàng nay cha tôi có dịp tay bắt mặt mừng, và hàn huyên cùng ông bí thư xã khét tiếng một vùng Kinh tế mới năm nào.