Opening Cà Phê Tí Tách's Blog

Friday, 20 June 2008

CỐT KHỈ LẠI HOÀN CỐT KHỈ

Rất tâm phục khẩu phục vì tính tiên tri rõ ràng, cụ thể trong bài viết của tác giả Trần Đông Chấn trên blog của nhà báo Bút Lông, xin mạn phép được chép lại vào blog của mình để ít nhiều nói thay nỗi chán chường, tuyệt vọng của một trong hàng triệu triệu nạn nhân trước tình cảnh "khủng hoảng các loại" hiện nay, chưa biết lúc nào đi đến hồi kết.

Nếu được cảnh báo sớm hơn, nhiều người đã thoát được "bẫy ", trong đó hẳn phải có xác con ve sầu này, tiếc thay...

VND đi về đâu?

Những số liệu được công bố cho biết trong 3 năm từ 2005 đến 2007 tăng trưởng GDP của Việt Nam là 27% (tạo ra thêm khoảng 434 ngàn tỷ đồng giá trị sản phẩm quốc nội) nhưng lượng cung tiền lại tăng tới 135%. Điều này có nghĩa rằng nhà nước đã phát hành thêm một lượng tiền lớn hơn gấp nhiều lần trị giá của cải mà xã hội làm ra được trong 3 năm trên. Nếu lượng tiền đó được lưu thông hết vào thị trường thì sẽ tạo ra khả năng lạm phát lên đến 80% trong quãng thời gian này.

Thế nhưng con số lạm phát danh nghĩa từ 2005 đến 2007 đã được công bố là 27,6% (2005: 8,4%, 2006: 6,6%, 2007: 12,6%), như vậy mức độ lạm phát thêm 52,4% nữa sẽ có thể xảy ra bất kỳ lúc nào từ đầu năm 2008 trở đi. Nếu loại trừ các yếu tố lạm phát không do tiền tệ (giá đầu vào tăng, kỳ vọng của người dân, v.v..) trong con số 27,6% nêu trên thì mức độ lạm phát tiềm tàng còn cao hơn 52,4% nhiều. Con số này chưa xảy ra vào cuối năm 2007 nghĩa là có trên 600 ngàn tỷ đồng (tương đương 52,4% GDP của năm 2007) đã được phát hành nhưng đang bị ghim giữ bởi một số cá nhân và tổ chức nào đó chưa đẩy cho lưu thông vào thị trường.

Tiền đồng đang ở đâu?

Người dân Việt Nam không có thói quen giữ tiền đồng làm dự trữ an toàn, trong tình hình lạm phát tăng nhanh thì biện pháp này lại càng không được lựa chọn. Các doanh nghiệp sản xuất kinh doanh thì luôn trong tình trạng cần vốn, phải đi vay. Các ngân hàng thương mại không có lý do gì cầm giữ một lượng tiền đồng lớn mà không cho vay ra để phải gánh chịu lãi suất huy động trừ các khoản dự trữ bắt buộc. Khả năng duy nhất là một lượng lớn tiền đồng đang bị ghim giữ bởi các quỹ đầu cơ (hedge fund) buôn chứng khoán tại Việt Nam.

Cuối năm 2006 đến cuối năm 2007 đô-la Mỹ bị mất giá mạnh trên thị trường thế giới, lãi suất của nó liên tục giảm; trong thời gian đó Việt Nam vẫn theo đuổi chính sách duy trì tỷ giá tiền đồng thấp; đầu năm 2007 nước ta chính thức gia nhập WTO. Vậy là đã hội đủ các yếu tố cần để tạo thời cơ tuyệt vời cho bầy thú điện tử sừng mềm – cách gọi của Thomas Friedman dành cho các quỹ đầu cơ tài chính trong thời đại toàn cầu hóa – tấn công trục lợi nhanh tại Việt Nam. Các hedge fund mau chóng được thành lập và huy động vốn bằng đô-la Mỹ với lãi suất thấp để đầu cơ vào Việt Nam.

Những tháng cuối 2006 đến 2007 các quỹ này đã rót khoảng 160 ngàn tỷ đồng (tương đương với 10 tỷ đô-la Mỹ) vào thị trường chứng khoán, bơm giá cổ phiếu tăng đến chóng mặt, tạo ra một ma lực cuốn hút người dân đổ tiền vào cổ phiếu. Ước tính đã có hơn 350 ngàn tỷ đồng bị hút vào chứng khoán từ nguồn tự có, vay mượn và thế chấp của người dân. Giá cổ phiếu ít thì tăng vài ba lần, nhiều thì đến vài chục lần, vượt xa hoàn toàn khả năng tạo ra giá trị thực tế của nó.

Khi mọi người đã đạt đến cơn say ghim giữ cổ phiếu bởi giấc mộng làm giàu nhanh thì tai họa ập xuống. Nhưng tai họa không chỉ đến một lần. Mỗi khi các cổ phiếu được đầu cơ bị bán ra ồ ạt để thu lợi, chỉ số chứng khoán sụt giảm thì ngay sau đó sẽ xuất hiện những thông tin hỗ trợ từ chính phủ, từ nước ngoài và được tuyên truyền quá nhiệt tình bởi các phương tiện truyền thông đại chúng chính thống. Người dân lại được hâm nóng bằng những hy vọng mới, bầy thú tiếp tục nhồi tiền làm mồi nhử, cổ phiếu lại lên giá, dân lại hồ hởi mua vào. Cái vòng xoáy hút – nhồi ấy được lặp đi lặp lại nhiều lần trong suốt năm ngoái đến nay. Tiền trong dân tuôn ra ngày càng nhiều, guồng máy hút – nhồi này lại càng tăng công suất, các ngân hàng trong nước càng nhiều nguy cơ.

Kết quả cuối cùng như thế nào thì giờ đây ai cũng thấy, nhưng thật đáng tiếc là chính phủ vẫn không chịu nhìn thấy, vẫn tiếp tục bị thao túng bởi những kẻ cơ hội để ra những quyết sách tiếp tay cho bầy thú điện tử. Tổng công ty SCIC dễ dàng tuôn ra 5 ngàn tỷ đồng để gọi là “cứu” chứng khoán nhưng thực tế là giúp cho những con thú điện tử bán ra những cổ phiếu sắp chết để mua vào những cổ phiếu có tiềm năng thực với giá rẻ mạt, chuẩn bị cho một sự thâu tóm.

Còn nhớ vào đầu năm 2007, khi mà chứng khoán đang trong giai đoạn bị làm giá bởi bầy thú để đầu cơ trục lợi, đã có ý kiến đề nghị SCIC nhanh chóng bán ra số lượng cổ phần của các công ty niêm yết mà tổng công ty này đang nắm giữ để giảm sốt cho thị trường, tăng lượng tiền dự trữ của chính phủ để dự phòng cho người dân đang bị cơn say ma lực. Là một cổ đông lớn nhất trên thị trường, nắm giữ một lượng lớn cổ phiếu của rất nhiều các công ty niêm yết có trị giá vốn hóa đến gần 50 ngàn tỷ đồng vào lúc cao điểm, SCIC hoàn toàn đủ sức làm đối trọng để chống những hành vi lũng đoạn thị trường, làm cho nó phát triển lành mạnh. Nhưng họ đã hoàn toàn bất động, trái hẳn với sự năng động xông vào “cứu” chứng khoán vừa rồi.

Giờ đây, khi mà hàng triệu người đã trở về với “cái máng lợn” thì những con thú điện tử sừng ngắn đã tích lũy được những khoản lời kếch xù, ít thì cũng bằng số vốn bỏ vào, nhiều phải đến một vốn bốn lời. Ngược lại, giá trị tài sản của SCIC đã bốc hơi đến vài chục ngàn tỷ đồng, thế nhưng họ vẫn đang tiếp tục “ôm” vào những cổ phiếu sắp chết. Hiện nay các chỉ số chứng khoán đã lùi về thấp hơn mức trước khi bầy thú tham gia vào thị trường, điều này đồng nghĩa với mấy trăm ngàn tỷ đồng không tự mất đi mà chỉ được dịch chuyển từ túi người dân và túi nhà nước vào túi bầy thú.

Các quỹ đầu cơ này đang kiểm soát một lượng tiền đồng khoảng 500 ngàn tỷ và được giữ tại các ngân hàng nước ngoài ở Việt Nam trong khi mức dự trữ trong dân đang dần cạn kiệt. Và đây chỉ mới là khúc dạo đầu của một kế hoạch. Sau giai đoạn chứng khoán bị làm giá rồi rơi tự do, sẽ đến giai đoạn tiền đồng bị làm giá. Đồng tiền quốc gia của 86 triệu dân đã bắt đầu bị lũng đoạn.

Tiền đồng đi về đâu?

Để hỗ trợ cho đầu tư nước ngoài tăng vọt trong năm 2007, ngân hàng Nhà nước đã được lệnh phát hành thêm tiền đồng vượt mức an toàn để mua đô-la Mỹ. Lý thuyết này sẽ khả thi nếu như nền kinh tế trong nước hấp thụ được lượng vốn ngoại đưa vào đầu tư phát triển sản xuất kinh doanh làm ra thêm của cải cho xã hội, dòng vốn được lưu thông thì ngân hàng Nhà nước dễ dàng hút tiền đồng về nhanh chóng để tránh lạm phát. Nhưng sẽ thật là mạo hiểm và vô trách nhiệm khi những nhà quản lý vĩ mô không nhìn ra và tiên liệu những tình huống ngược lại như thực tế đã diễn ra.

Áp dụng cách thức này trong lúc các điều kiện cần để tạo ra thời cơ tuyệt vời cho bầy thú điện tử đầu cơ đã hội tụ, chính là đưa đến điều kiện đủ cho một cuộc tấn công lũng đoạn có thể bắt đầu. Có nhiều chỉ trích rằng ngân hàng Nhà nước đã không tích cực hút tiền về nên làm lạm phát mạnh, nhưng cần hiểu là không thể thực hiện được điều đó khi mà chính ngân hàng Nhà nước đã tự đặt mình vào bẫy, để quyền điều tiết tiền đồng cho bầy thú kiểm soát.

Luồng vốn đầu tư gián tiếp tập kích ồ ạt vào chứng khoán nhưng hầu như chẳng được đưa vào đầu tư thực sự, nó chạy lòng vòng từ người này qua người khác theo cái vòng xoáy hút – nhồi để cuối cùng quay trở lại túi của bầy thú với trị giá được nhân lên nhiều lần. Các doanh nghiệp niêm yết huy động vốn xong lại tiếp tục đổ vào chứng khoán, chẳng có bao nhiêu tiền từ nguồn này được đưa vào đầu tư mở rộng kinh doanh tạo thêm sản phẩm cho xã hội.

Rất nhiều các lãnh đạo doanh nghiệp niêm yết vô trách nhiệm còn tiếp tay cho bầy thú điện tử lừa cổ đông để cùng hưởng lợi. Một tỷ lệ nhỏ tiền văng khỏi vòng xoáy của bầy thú, vào túi những kẻ tiếp tay. Số vốn này cuối cùng được đầu cơ vào bất động sản hoặc được cất giữ an toàn tại ngân hàng nước ngoài. Còn luồng vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài trong năm 2007 chỉ thực hiện được một phần tư so với đăng ký do những rào cản hành chính, yếu kém hạ tầng và thiếu thốn nguồn nhân lực được đào tạo. Triển khai đầu tư chậm, dòng vốn lưu thông ì ạch thì tiền đâu mà ngân hàng Nhà nước hút vào.

An sinh của gần 86 triệu dân hiện nay đang phụ thuộc hoàn toàn vào sự rộng lượng của “những con sói”. Nếu vài trăm ngàn tỷ đồng đang bị ghim giữ được tung ra đổi thành đô-la Mỹ thì lạm phát sẽ đẩy người dân đến thảm họa. Lượng đô-la này nếu bị đảo chiều – chuyển ra khỏi Việt Nam – thì toàn bộ dự trữ ngoại hối của quốc gia sẽ bốc hơi trong tích tắc nhưng cũng chỉ là muối bỏ bể trước sự thâm hụt cán cân thanh toán và thương mại quốc tế trầm trọng. Một cuộc khủng hoảng tồi tệ nhất không thua gì vụ giá–lương–tiền hồi giữa thập niên 80 của thế kỷ trước sẽ nổ ra ngay sau đó. Tiền đồng – VND sẽ mất giá và rơi tự do.

Ngay đầu năm 2008, rất nhiều các chuyên gia và tổ chức nước ngoài đệ trình lên chính phủ các giải pháp nâng giá tiền đồng so với đô-la Mỹ, thắt chặt tiền tệ, gia tăng lãi suất để kiềm chế lạm phát. Các giải pháp này lẽ ra đã phải được khuyến nghị để thực hiện từ giữa 2006 nhằm chống nguy cơ tấn công của bầy thú điện tử trước khi gia nhập WTO, giảm tăng trưởng ảo của nền kinh tế, kiểm soát lạm phát để kéo dần lãi suất ngân hàng xuống nhằm thúc đẩy đầu tư cho sản xuất kinh doanh thực thụ, nhờ đó nền kinh tế sẽ được tăng trưởng dần theo hướng có chất lượng bền vững.

Thật tiếc rằng các giải pháp vĩ mô trong 2006 – 2007 đi theo hướng hoàn toàn ngược lại, các nguy cơ không những không được tháo gỡ mà còn bị làm cho trầm trọng hơn. Chiến lược tăng trưởng nhờ thu hút đầu tư nước ngoài để gia tăng xuất khẩu đã ngăn cản việc nâng giá tiền đồng hợp lý nhằm gia tăng sức mua và nhu cầu nội địa – tức là gia tăng mức sống của người dân, một yếu tố quan trọng để tăng trưởng bền vững.

Việc duy trì tiền đồng yếu trong lúc đô-la Mỹ mất giá trung bình khoảng 20% so với các ngoại tệ khác trên thế giới chỉ tạo ra những sức hút ngắn hạn cho các nhà đầu tư nước ngoài khai thác lợi thế giá rẻ nhờ bảo hộ tỷ giá của nhà nước. Đầu tư trực tiếp nước ngoài tăng mạnh nhưng đa số là nhập khẩu nhanh những công nghệ lạc hậu vào Việt Nam rồi khai thác nhân công giá rẻ, nguyên liệu rẻ để sản xuất hàng hóa xuất khẩu. Các nhà đầu tư nước ngoài được hưởng lợi lớn, lợi kép nhờ tỷ giá. Những khoản lợi nhuận này được để bên ngoài Việt Nam bằng cách khai tăng giá nhập thiết bị và vật tư phục vụ xuất khẩu (thuế suất nhập khẩu bằng 0 hoặc rất thấp). Giá trị còn lại trong nước chỉ là tiền công và nguyên liệu rẻ mạt, đi kèm với môi trường bị hủy hoại do công nghệ lạc hậu, và sự suy yếu sức cạnh tranh của doanh nghiệp trong nước.

Đã có những cảnh báo về các nguy cơ rối loạn kinh tế lẫn xã hội nếu luồng vốn ngoại không cân đối làm suy yếu nội lực trong nước. Nhưng sự tuyên truyền ầm vang không mệt mỏi của các phương tiện thông tin đại chúng ca ngợi sự tăng trưởng ngoạn mục của đầu tư nước ngoài, tô hồng viễn cảnh sáng sủa của nền kinh tế đã át hẳn những tiếng nói có trách nhiệm. Dân chúng tránh sao được sự ảo tưởng và rơi vào vòng xoáy ma lực. Nhiều đề xuất, khuyến nghị chính phủ cần xem xét lại chính sách thúc đẩy xuất khẩu kiểu này nhưng kết luận cuối cùng là càng phải tăng mạnh xuất khẩu để giảm nhập siêu.

Nhưng sự thật trớ trêu là càng xuất khẩu kiểu đó thì nhập siêu càng lớn. Lý do là sức mua của toàn dân sụt giảm nghiêm trọng do tỷ giá tiền đồng thấp hơn thực tế, mà nhu cầu thì ngày càng tăng lên. Trong khi đó lại hoàn toàn thiếu vắng các chính sách hỗ trợ cho việc đáp ứng các nhu cầu nội địa, biểu thuế suất nhập khẩu hàng ngàn mặt hàng (đặc biệt là nông sản) giảm xuống do gia nhập WTO. Lượng nhập khẩu tăng lên là đương nhiên để đáp ứng các nhu cầu trong nước. Giá nhập khẩu cũng phải tăng mạnh do 2 tác động kép của tỷ giá tiền đồng thấp và giá cả thế giới tăng.

Nhập siêu 2007 phi mã đến 12,5 tỷ đô-la Mỹ (hơn 2,5 lần mức 2006) là vẫn còn may mắn. Nếu dầu thô thế giới không tăng giá để mang thêm về cho Việt Nam gần 2,5 tỷ đô-la Mỹ (40 ngàn tỷ đồng) từ xuất khẩu trong 2007 thì tình hình sẽ còn tồi tệ hơn nhiều. Thế nhưng người dân đã không được hưởng gì từ khoản thặng dư của tài nguyên quốc gia này sau khi chính phủ quyết định cắt bỏ 10 ngàn tỷ đồng bù giá xăng dầu trong nước. Sức mua của người dân bị ép giảm sút nặng nề để tăng lợi thế cho đầu tư nước ngoài và xuất khẩu mà ở đó chỉ một nhóm nhỏ các nhà xuất khẩu, chủ yếu từ nước ngoài hưởng lợi.

Giờ đây khi mà tiền đồng đã mất giá thực sự do lạm phát tiền và nội lực trong nước suy kiệt thì các giải pháp nâng giá tiền đồng lại được thực hiện. Lại một cái bẫy. Quyền lợi lại thuộc về nước ngoài. Đầu tháng 3/2008 ngân hàng Nhà nước mới yêu cầu tăng dự trữ bắt buộc lên thêm 1% (tương đương khoảng 10 ngàn tỷ đồng) và phát hành tín phiếu bắt buộc trị giá 20,3 ngàn tỷ đồng; chỉ hút hơn 30 ngàn tỷ đồng mà đã làm cả hệ thống tài chính ngân hàng điêu đứng, náo loạn đua nâng lãi suất để động viên người dân chuyển đổi ngoại tệ thành tiền đồng gửi vào ngân hàng. Tiền đồng trở nên khan hiếm, đô-la Mỹ bị mất giá.

Người dân lại bị cuốn hút vào một cuộc chơi mới của bầy thú điện tử. Các quỹ đầu cơ này đang cần đổi tiền đồng sang đô-la Mỹ, một tỷ giá đô-la Mỹ thấp sẽ rất có lợi cho họ. Tiền đồng bị siết chặt, biên độ tỷ giá đô-la Mỹ được nới lỏng. Đô-la Mỹ rơi xuống gần 15,5 ngàn đồng/USD nhưng bán cũng không ai mua. Trong tuần thứ ba của tháng 3/2008 này bầy thú điện tử đã tung hơn 30 ngàn tỷ đồng để mua vào khoảng 2 tỷ đô-la Mỹ. Ngay lập tức lạm phát gia tăng thêm 3%, đạt mức kỷ lục 9.2% trong chưa đầy 3 tháng đầu năm 2008. Cùng lúc, các ngân hàng chuẩn bị giảm lãi suất huy động.

Cái vòng xoáy hút – nhồi, tăng lên – giảm xuống sẽ được lặp lại nhiều lần như chứng khoán, đến khi mà bầy thú đã nắm trong tay một lượng lớn đô-la Mỹ thì sức mua của tiền đồng sẽ rơi tự do không phanh. Chỉ số giá tiêu dùng CPI sẽ tăng thêm cỡ 50% nữa, con số này chưa bao gồm những tác động của việc tăng giá đầu vào và sự mất niềm tin của dân chúng. Yếu tố niềm tin này có thể dẫn đến sự sụp đổ không ai có thể lường hết được, nó sẽ vượt quá nhiều lần mọi tính toán kỹ thuật nếu như người dân nhận ra mình đã bị lừa.

Thâu tóm và thôn tính

Nhưng mục tiêu của bầy thú không chỉ đơn giản như vậy. Bây giờ có lẽ chính phủ đã nhận ra được những nguy cơ của lạm phát sẽ tác động khủng khiếp thế nào đến sự bất ổn xã hội. Nếu không muốn cuộc khủng hoảng này bùng nổ ngay trong năm 2008, chính phủ phải thương lượng mua lại khoản tiền đồng khổng lồ của bầy thú. Quá trình thâu tóm đang bắt đầu.

Nhưng tiền đâu để mua khi mà dự trữ ngoại hối của quốc gia quá yếu ớt. Ngay cả có huy động được mọi nguồn lực để có đủ số tiền này thì bầy thú sẽ nói họ không cần đô-la Mỹ vì họ có thể mua nó dễ dàng từ thị trường. Họ muốn quyền kiểm soát các doanh nghiệp Việt Nam, nhất là những tập đoàn được hưởng đặc quyền và đầy lợi thế của nhà nước. Các doanh nghiệp này đã được bảo hộ chặt chẽ trong các điều khoản gia nhập WTO để không chịu sức ép cạnh tranh lớn khi hội nhập. Nhưng giờ đây chúng sẽ được trao quyền kiểm soát chi phối bằng sở hữu đa số thông qua các hiệp định song phương đang được đàm phán vội vã.

Dân chúng đừng vội mừng vì hy vọng vào sự tốt lên của các doanh nghiệp này sau khi có bàn tay của nước ngoài. Kinh nghiệm trên thế giới cho thấy trong một đất nước mà thiếu vắng các chiến lược để tạo ra lợi thế quốc gia trong một hệ thống toàn cầu hóa, và nguồn nhân lực thì thiếu kỹ năng được đào tạo đúng mức, cộng với tham nhũng chi phối các chính sách nhà nước thì bầy thú điện tử sẽ chỉ dùng các doanh nghiệp khổng lồ trong nước được bảo hộ để khai thác thị trường nội địa, buộc người dân phải trả giá cao để có siêu lợi nhuận. Hiệp hội các nhà sản xuất ô-tô (VAMA) vừa vận động nâng thuế nhập khẩu xe hơi để “chống nhập siêu” là một minh chứng cụ thể cho việc đó.

Áp lực đang được gia tăng lên rất mạnh để các điều khoản đảm bảo cho việc thâu tóm dễ dàng đạt được. Bầy thú đang nhả tiếp tiền đồng ra đổi lấy đô-la Mỹ khiến nó lên giá, lạm phát tiếp tục tăng vọt. Trong tình hình này có lẽ những điều kiện cần để thâu tóm sẽ phải hoàn tất trong vòng trên dưới 2 tháng nữa. Từ nay đến đó chứng khoán sẽ tiếp tục hoành hành để gây rối và gia tăng áp lực đàm phán. Đến khi mọi việc được ký kết thì tới lượt bất động sản sẽ được thổi bùng lên, giá trị thật giá trị ảo sẽ lại điên loạn lên một lần nữa – một cuộc chơi mới theo bài cũ. Nó sẽ tạo ra bất ổn đến cuối năm, không chỉ để trục lợi mà còn nhằm lũng đoạn dễ dàng các chính sách vĩ mô để phục vụ cho những kế hoạch tiếp theo.

Nhà nước nếu không cẩn thận thì sẽ bị những kẻ cơ hội tiếp tục thao túng để bơm ra lượng tiền đồng khổng lồ đã thu hồi về nhờ bán rẻ tài sản toàn dân. Trong lúc rối ren, thật giả lẫn lộn thì không khó gì để viện ra những lý do nghe xuôi tai để làm được việc ấy. Lúc đó sẽ không còn gì có thể cứu vãn được nữa. Đó chính là sự kết thúc.

Nhưng đấy cũng là khởi đầu của sự thôn tính.

Cộng sinh trong toàn cầu

Đất nước ta đang thực sự rất nguy kịch, tiến thoái lưỡng nan mà chỉ có sức mạnh của toàn dân mới có thể giúp vượt qua được. Người dân cần được chia sẻ những thông tin thật để lường trước những khó khăn xấu nhất. Người dân cần được tạo niềm tin từ sự chân thật để cùng nhà nước tìm ra những biện pháp thoát hiểm. Từ trước đến nay dân chúng bị cuốn hút vào những cuộc chơi mà mình không những không có được thông tin đầy đủ mà còn bị làm sai lệch.

Trong khi đó bầy thú thì không thiếu bất kỳ thông tin gì nhờ lấy được từ các định chế tài chính quốc tế như ngân hàng Thế giới (WB), quỹ Tiền tệ Quốc tế (IMF). Chính phủ phải cung cấp định kỳ cho họ. Thông tin quốc gia là một loại tài nguyên quốc gia quan trọng hàng đầu, nó càng quan trọng hơn trong thời đại ngày nay. Sự thất bại thuộc phía người dân là tất yếu.

Kinh tế học không phải là môn khoa học tự nhiên như toán học, vật lý. Nó là một khoa học dựa vào hành vi con người và hướng đến con người dù rằng nó dùng các công cụ toán học để mô phỏng và phân tích. Các tính toán lý thuyết kinh tế sẽ không có giá trị gì nếu không gắn nó với việc hiểu ứng xử và động lực của con người.

Không thể điều hành vĩ mô một nền kinh tế thị trường thành công bằng bàn tay hữu hình của chính phủ, vì kinh tế thị trường vốn được vận hành theo qui luật của bàn tay vô hình – cách mà các nhà kinh tế học gọi tên một cơ chế thúc đẩy sự vận động kinh tế thông qua việc tác động vào động lực con người. Thật tiếc là các thế lực bên ngoài đã áp dụng cách này thật nhuần nhuyễn ở Việt Nam.

Chỉ khi nào những người cầm cân nẩy mực hiểu được dân, biết được điểm mạnh của dân, nhìn được điểm yếu của dân, cảm được nỗi đau của dân, hạnh phúc vì niềm vui của dân thì mới có thể xây dựng được những chính sách hợp lòng dân. Còn không thì cho dù là lý thuyết nào đi nữa, được ủng hộ bởi những tổ chức danh giá đến đâu đi nữa, dựa vào mô hình thực tế thành công của thể chế nào đi nữa cũng không thể tránh khỏi sự thất bại.

Trong một đất nước mà sự phát triển dân chủ còn rất nhiều hạn chế, nhà nước ở đó phải thương dân như con thì mới có thể xây dựng một nền kinh tế mạnh, xã hội vững chắc. Đầy tớ mà có trách nhiệm thì thật là hiếm hoi, mà dù có trách nhiệm thế nào thì cũng không bao giờ có tình thương với chủ.

Cái giá của một nền kinh tế trọng ngoại như nước ta sẽ còn những tác hại rất lâu dài. Sẽ không có một thần dược ngoại nào có thể chữa ngay khỏi bệnh. Chỉ có niềm tin của dân, sức mạnh tập hợp của toàn dân trong lẫn ngoài nước mới có thể tạo ra một nội lực đủ sức đề kháng với sự tấn công tiêu cực của ngoại lực, rồi tiến tới trung hòa cộng sinh với nó. Lúc đó đất nước mới có thể phát triển vững bền.

Chỉ khi nào nền kinh tế đất nước hội nhập một cách cộng sinh với hệ thống toàn cầu hóa thì lúc đó mới có thể tránh khỏi những cuộc tấn công như vậy. Người ta không thể đánh vào chính mình. Thật buồn là chúng ta đã tự làm như thế. Hội nhập mà không tạo ra những lợi thế tương hỗ, ràng buộc trong một guồng vận hành khốc liệt của toàn cầu hóa thì không khác gì tự biến mình thành một cái hố hứng rác thải của cái cỗ máy ấy mà thôi.

Tham nhũng và sụp đổ

Hơn lúc nào hết, chính phủ phải nhìn thẳng vào sự thật cho dù nó khắc nghiệt đến mức nào. Khủng hoảng toàn diện một cách trầm trọng là không thể tránh khỏi. Tránh né sự thật, trì kéo mua thời gian bằng cách vay mượn tương lai để tạm qua năm tháng hiện tại sẽ chỉ làm cho nó trầm trọng hơn mà thôi. Sự khốn cùng của dân chúng sẽ càng tồi tệ. Nền kinh tế nước ta từ nhiều năm nay đã tăng trưởng theo kiểu vay mượn tương lai cho thành tích hiện tại. Cuộc khủng hoảng này sẽ là một điểm dừng phải có để chấm dứt cái hệ thống vận hành sai qui luật này.

Trái qui luật nhưng nó vẫn tồn tại một thời gian khá dài chính là nhờ tham nhũng. Tham nhũng tạo ra động lực và bị biến thành công cụ cho một nhóm nhỏ những người cầm quyền và bầy thú điện tử. Quyền tạo ra tiền, tiền biến thành quyền, quyền cần có thành tích để củng cố. Thành tích không thể thật vì tham nhũng nhưng phải được tuyên truyền và thổi phồng làm người dân ảo tưởng, chấp nhận chịu đựng vì hy vọng vào những tương lai tốt đẹp mà chính quyền hứa hẹn. Nhưng niềm tin không thể được xây dựng trên những gì giả tạo. Trong sấm Trạng Trình có câu:

Phú quí hồng trần mộng

Bần cùng bạch phát sinh

Thật đúng với thời cuộc. Sự giàu có (phú quí) ở những nơi đô thị (hồng trần) chỉ là ảo (mộng). Đến khi dân chúng rơi vào nghèo khổ cùng cực (bần cùng) thì sự thật (bạch) sẽ phơi bày (phát sinh). Sự sụp đổ niềm tin có sức tàn phá khủng khiếp. Nếu nó không được dẫn dắt bằng lòng nhân ái và quyền lợi dân tộc thì sức mạnh đó sẽ bị lợi dụng cho mục tiêu chính trị ngược lại.

Nên nhớ rằng cuộc khủng hoảng đang xảy ra nhanh chóng vì đã có một sự phá vỡ cái thế cân bằng ảo. Đất nước không được xây dựng để cộng sinh trong hệ thống toàn cầu hóa, nhưng lại hình thành sự cộng sinh giữa những kẻ tham nhũng, cơ hội trong chính quyền với bầy thú điện tử để chi phối các hoạt động xuyên suốt của đất nước mà nhiều người lầm tưởng là sự ổn định. Nhưng giờ đây bầy thú không thể bỏ qua thời cơ tuyệt vời để có nhiều quyền lợi hơn và đứng lên trên cái hệ thống cộng sinh đó. Sự cân bằng bị phá vỡ vì thế.

Sức dân và mệnh nước

Toàn dân cần được chuẩn bị để đối phó với cuộc khủng hoảng mà đỉnh điểm của nó sẽ rơi vào năm sau – Kỷ Sửu 2009. Tất cả những gì nhà nước cần tập trung lúc này là HẬU SỨC DÂN. Làm sao phải gia tăng sức mạnh vật chất lẫn tinh thần cho dân đủ sức chịu đựng khó khăn để vượt qua và xoay chuyển tình thế. Bổ sung sức mạnh vật chất là cần thiết nhưng trong điều kiện hiện nay thì không thể đủ mạnh. Chỉ có sức mạnh của niềm tin và sự đồng lòng mới có thể tạo ra vận thế mới.

Chính phủ đang kêu gọi dân chúng thắt lưng buộc bụng và đề ra các giải pháp “chống lạm phát, ổn định kinh tế vĩ mô” như vừa rồi thì không thể hậu sức dân. Chỉ đơn cử việc giảm đầu tư công. Các bộ ngành, địa phương đang bàn về cắt giảm ngân sách đầu tư bằng việc cắt bớt các dự án. Giảm đầu tư trong nước tức là giảm nội lực. Cấu trúc hiện nay của nền kinh tế đang phụ thuộc rất lớn vào đầu tư công vì nó chiếm đến 40% tổng đầu tư quốc gia. Trong khi mà chưa có những cơ chế, chính sách để cho phép và hỗ trợ khu vực dân doanh đầu tư thay thế nhà nước thì việc rút giảm đầu tư công sẽ tạo ra một khoảng trống cực kỳ tai hại.

Toàn dân vẫn cần những đầu tư ấy để tạo ra hạ tầng, công ăn việc làm – những thứ mà Việt Nam còn thiếu thốn nhiều một thời gian dài nữa. Việc chính phủ cần làm là đảm bảo hiệu quả đầu tư công, hay nói theo kinh tế học là giảm chỉ số ICOR xuống. Thống kê chỉ số này của nhà nước cho thấy ICOR của đầu tư công là 8 (tức đầu tư đến 8 đồng mới làm ra thêm 1 đồng tăng trưởng). Đầu năm 2007, một thành viên của chính phủ trả lời trước công chúng giải thích rằng chỉ số này cao vì năng suất lao động của đất nước còn thấp.

Nhưng không thấy có ai hỏi tiếp rằng tại sao cùng với những người lao động Việt Nam mà khu vực dân doanh, dù trình độ quản lý cũng chưa hiện đại nhưng chỉ số này chỉ có 4 (chỉ cần 4 đồng đầu tư sẽ tạo ra 1 đồng tăng trưởng), của khu vực nước ngoài là 2.7. Không hỏi vì ai cũng biết rằng hiệu quả đầu tư công thấp là do tham nhũng.

Chỉ cần làm được như khu vực dân doanh thì cùng một dự án đầu tư nhà nước có thể giảm được một nửa số vốn bỏ ra mà dân chúng vẫn được hưởng thành quả không đổi. Một nửa ấy từ trước đến nay do tham nhũng mà thất thoát. Theo kế hoạch 5 năm từ 2006 – 2010, mỗi năm đầu tư công lên đến 270 ngàn tỷ đồng, một nửa số tiền đó mà tiết kiệm được và dùng để hậu sức dân thì thật là có ý nghĩa. Còn nếu cắt giảm theo kiểu số lượng thì chỉ gia tăng sức mạnh cho những kẻ tham nhũng, cơ hội. Lạm phát sẽ càng tăng dù trị giá đầu tư có giảm. Hiện nay đã bắt đầu xuất hiện tình trạng chạy để được giữ lại các dự án. “Mạnh vì gạo”, ai chi nhiều hơn thì sẽ được tiếp tục đầu tư, tỷ lệ thất thoát sẽ càng gia tăng, chất lượng đầu tư càng giảm, lạm phát càng tăng là vì thế. Dân sẽ vẫn lãnh đủ.

Giải pháp hiệu quả nhất hiện nay thật đơn giản mà không đơn giản: triệt tiêu tham nhũng. Làm được việc này thì sẽ gia tăng nguồn lực cho dân, củng cố niềm tin của dân. Chính là hậu sức dân. Nhưng điều này thật quá khó cho chính quyền hiện nay khi mà luật pháp trong nước bị bóp méo bởi những kẻ tham nhũng – cơ hội, và những định chế quốc tế bị chi phối bởi bầy thú điện tử. Một kẻ như Bùi Tiến Dũng lại được ngân hàng Thế giới (World Bank) tại Việt Nam khẳng định là không có dấu hiệu tham nhũng để rộng đường cho một phiên tòa chỉ xử tội đánh bạc. Nguyễn Việt Tiến cũng vừa được thả ra và phục hồi quyền lợi mà không qua xét xử. Cái hệ thống cộng sinh này là như thế đấy.

Chính phủ thực hiện các giải pháp vĩ mô như hiện nay sẽ tiếp tục hậu ngoại lực, ép nội lực dù vô tình hay hữu ý. Càng nhiều bàn tay hữu hình thò ra thì càng dễ bị giật dây điều khiển. Chưa hết tháng 3/2008 mà nhập siêu đã phi đến 7 tỷ đô-la Mỹ, bằng 56% của cả năm 2007, vượt xa con số 4,8 tỷ của 2006. Ấy vậy mà nhận định mới nhất của chính phủ trước thường vụ Quốc hội là vẫn tin tưởng cân đối được cán cân thanh toán quốc tế do Việt Nam vẫn đang là điểm sáng của thu hút đầu tư nước ngoài.

Sao vẫn tiếp tục trông chờ vào ngoại lực mà không nhìn nhận thực tế là đất nước này đang còn cầm cự được phần nào trước sự thâm hụt mậu dịch lâu nay là nhờ vào kiều hối 2 tỷ đô-la Mỹ của gần nửa triệu lao động Việt đang phải chịu cực khổ, tủi nhục, cả bỏ mạng ở nước ngoài, 5 tỷ đô-la Mỹ của hơn 3 triệu đồng bào Việt định cư ngoài nước gửi về hàng năm mà không kèm bất kỳ điều kiện và đòi hỏi nào; nhờ vào tiền công lao động rẻ mạt của hàng triệu lao động nghèo trong nước còn giữ lại được từ xuất khẩu; và của hàng chục triệu nông dân bán mặt cho đất bán lưng cho trời làm ra những nông sản để xuất khẩu. Không hề thấy chính phủ phân tích và đề cập đến việc chăm sóc các nguồn lực này như thế nào trong các giải pháp hiện nay và trước đây.

Những người lao động nghèo này chính là lực lượng tiên phong phải đương đầu trước tiên với cạnh tranh toàn cầu, ngay khi Việt Nam gia nhập WTO trong khi chưa hề được chuẩn bị những kiến thức và kỹ năng cần thiết. Họ chẳng hiểu toàn cầu hóa là gì nhưng các cam kết để gia nhập WTO đã dỡ bỏ ngay lập tức trợ cấp xuất khẩu nông sản và hàng dệt may; giảm ngay xuống mức thấp thuế suất nhập khẩu các mặt hàng nông sản, may mặc.

Trong khi đó, các doanh nghiệp nhà nước đang kiểm soát hoàn toàn các ngành dịch vụ tài chính – ngân hàng, bưu chính – viễn thông, năng lượng – dầu khí được nuôi dưỡng và hưởng đặc quyền lâu nay, nắm giữ những nguồn lực lớn nhất của quốc gia thì vẫn tiếp tục được bảo hộ theo lộ trình từng bước 3 năm, 5 năm sau khi gia nhập WTO. Tiềm năng phát triển rất lớn của thị trường nội địa trong các lĩnh vực này, thay vì phải được dùng làm hậu phương vững chắc để tiến công ra thị trường toàn cầu, làm lực lượng tiên phong bước ra cạnh tranh để giảm áp lực cho những nông dân, công nhân may mặc cần thời gian để hiểu và chuẩn bị cho hội nhập, thì lại được quây rào để dành cho bầy thú điện tử thâu tóm.

Chuyện này khác gì trong một cuộc chiến, những người dân đen cùng đinh bị đưa ra trước để làm bia đỡ đạn trong khi quân chủ lực vẫn đang còn say sưa chè chén. Đến khi giặc vào tới thì hèn nhát, không phải là bỏ chạy mà là đầu hàng bán rẻ đồng đội. Thế nhưng những kết quả đạt được trong đàm phán WTO được ca ngợi là thành công, là ngoạn mục. Có thể dễ dàng đọc được trên các website của các bộ ngành để nghe họ khen tặng, tâng bốc về cái thành quả này như thế nào.

Hội nhập toàn cầu là một quá trình phải được bắt đầu một cách chủ động từ trước khi ký kết hiệp định quốc tế. Sự thụ động và chạy theo thành tích thì tránh sao khỏi rơi vào những cái bẫy đàm phán. Người ta không cần nhưng vẫn khăng khẳng đòi mở cửa xuất bản ngay. Còn ta thì châm châm bảo vệ sự kiểm soát nó tuyệt đối bằng mọi giá mà không hiểu rằng internet đã thay đổi mọi thứ. Nếu anh muốn giữ chặt cái này thì anh phải nhả cho tôi ngay cái khác: hoặc là nông sản và dệt may; hoặc là các dịch vụ tài chính – ngân hàng, bưu chính – viễn thông, năng lượng – dầu khí. Họ muốn ta nhả cái thứ nhất để tạo bất ổn xã hội, mục tiêu lớn như vậy mà chẳng phải vất vả gì để đạt được. Họ thừa biết các nhóm lợi ích trong các lĩnh vực dịch vụ này dư sức chi phối các quyết định đàm phán cuối cùng.

Đừng nghĩ là chính quyền kiểm soát báo chí, tuyên truyền mà dân chúng không đủ hiểu biết để nhìn ra những vấn đề quá lớn mà các chính sách vĩ mô đã tạo ra cho họ. Người dân thậm chí còn bảo rằng chẳng phải nhà nước mắc bẫy, chẳng qua vì quyền lợi cá nhân mà nhà nước đưa dân vào hoàn cảnh như ngày hôm nay. Luật thuế thu nhập cá nhân sắp có hiệu lực từ đầu năm sau sẽ là một giọt nước tràn ly đối với lòng dân.

So sánh chiến lược về lợi thế cạnh tranh giữa các quốc gia thì bộ luật này, với mức khởi đầu là 5% cho thu nhập 4 triệu đồng/tháng và 35% cho phần thu nhập từ 80 triệu đồng/tháng trở lên, đã đặt Việt Nam vào một quốc gia có tương lai dựa trên lao động giá rẻ thiếu kỹ năng, chứ không phải một nơi nuôi dưỡng chăm sóc cho con người có đủ tri thức để làm nền tảng phát triển vững chắc của đất nước. Chắc chắn rất nhiều nước đã vỗ tay vui mừng bộ luật này. Lại mắc bẫy hay do thiếu hiểu biết, người dân tự sẽ nhận ra và phán xét.

Không củng cố niềm tin thì hậu quả thật khó lường hết bằng các con số. Các tính toán kỹ thuật cho thấy khả năng tiền đồng sẽ nhanh chóng chỉ còn hơn 20 ngàn/USD. Nhưng một khi người dân không còn niềm tin gì vào nhà nước thì con số này có thể là 30 ngàn, 40 ngàn hay cao tới mức mà không ai có thể dự báo nỗi. Nó cũng không khác gì việc đáy chứng khoán được dự báo không biết bao nhiêu lần. Mức trên dưới 500 điểm như hiện nay vẫn chưa phải là đáy. Còn xa mới tới đáy vì bầy thú không chỉ muốn thâu tóm, mà là thâu tóm rất rẻ để dồn tiền cho sự thôn tính chính trị.

Vận nước đang đứng trước một bước ngoặt lịch sử. Đây là một biến cố lớn sẽ chắc chắn tạo ra sự xoay chuyển. Con tạo xoay vần, nhưng xoay về đâu, đó là trách nhiệm của tầng lớp trí thức của đất nước. Những con Lạc cháu Hồng ưu tú sẽ tập hợp lại tạo nên sức mạnh của cả dân tộc thuộc mọi tầng lớp để hóa giải thế cờ, xoay chuyển biến cố thành một vận hội mới.

Có một Con đường như vậy.

“Quốc gia hưng vong, thất phu hữu trách”. Trong họa có phúc.

Trần Đông Chấn

Mùa xuân tháng 3, 2008.

Monday, 21 April 2008

Đón đuốc Olympic




Mọi thứ đang trôi về những ngày cuối cùng của quý I năm 2008, những tháng đầu tiên của một năm với nhiều khó khăn, vất vả, không mong đợi. Chẳng riêng gì ở VN, con người ta ở khắp nơi trên trái đất đang có quá nhiều vấn đề để lo lắng, để ưu tư. Kinh tế, tài chính, lương thực, nhiên liệu, khí hậu... khiến các tổ chức thế giới đang phải cơ cấu lại nhiều chương trình mang tính chiến lược trên khắp toàn cầu.

Trở lại chuyện đất nước mình, vào thời điểm gần cuối năm vừa qua, năm 2007, chính phủ Trung Quốc bỗng nhiên“giỡn mặt”, công bố tỉnh queo bản đồ hành chính đảo Hoàng Sa của nước ta, một động thái ngạo mạn, khinh thường đến tận cùng, coi cả đất nước VN như rơm như rác! Dẫn đến việc ông Lê Dũng ở bộ ngoại giao ta phải có bài phát biểu đáp lại trên Thời sự VTV1, người dân trong cả nước đều được biết.

Hay quá, lịch sử như được hâm nóng lại từ đấy. Ai là người VN, đang sống, ngay hôm nay và cả mai sau, còn nợ ngàn lần và nhiều hơn thế nữa, những anh linh biết bao anh hùng lịch sử, cùng những chiến sĩ, của cả hai chính thể khi đất nước còn bị chia cắt, đã anh dũng bỏ mình vì sự toàn vẹn lãnh thổ cho quê hương VN. Còn bao nhiêu hồn ma người Việt chưa thể siêu thoát, còn vảng vất ngày đêm quanh những vùng biển đảo, biên giới từng bị quân Trung Quốc xâm lược.

Rồi, măc cho mọi thứ khó khăn, khổ sở, phiền nhiễu… nhưng, trong điều kiện hết sức hạn chế đó. Ta cứ tạm cho rằng vào những ngày ấy, độ cuối tháng 12 năm trước, ít ra cũng đã có những người VN, họ có được 2 lần, 2 lần được phơi gan, phơi ruột, bày tỏ ít nhiều lòng yêu tổ quốc, dân tộc, ý thức một cách sâu sắc hơn về sự toàn vẹn lãnh thổ, đồng tâm nhất trí, muôn lòng như một, tất cả mọi con người VN này như thể sẵn sàng đổ đến giọt máu cuối cùng cho niềm tin thiêng liêng, cao cả ấy.

Trong những biến động vừa qua gây chú ý của toàn thế giới, khi các sư sãi cùng dân Tây Tạng bị lính TQ đàn áp, tôi như nhìn thấy đâu đó trong họ, hình ảnh dân tộc VN mình, lòng rưng rưng ngậm ngùi, xót xa niềm thương cảm… Hơn nửa thế kỷ, một triệu hai trăm nghìn sinh mệnh người Tây Tạng đã hy sinh, cho nỗi khát khao độc lập rất chính đáng của dân tộc họ, nhưng chính quyền Bắc Kinh chắc chắn rồi, họ không bao giờ để người Tây Tạng có cơ hội để ngủ mơ, dù chỉ là một phút giây ngắn ngủi.

Đến chuyện rước đuốc Olympic 2008 đang đi vòng quanh thế giới. Không kể những điểm tiêu biểu, đình đám như London, Paris hay San F.. nơi mà ngọn đuốc đi qua cùng những con số đáng nể, 18 nghìn cảnh sát, an ninh chìm nổi, barie và hàng rào kẽm gai, súng và cả thiết giáp, trực thăng quần thảo trên trời...Còn tại Nepal, tôi mới nhìn thấy trên truyền hình chỉ vài phút trước đây, chính quyền Nepal vừa tuyên bố sẵn sàng shooting không thương tiếc!!

Để ý một chút, ta thấy, khi người Tây Tạng lưu vong biểu tình với quy mô ngày càng lớn bao nhiêu thì đồng thời ngay lập tức Bắc Kinh cũng cân bằng lực lượng, bằng việc huy động đông đảo đội quân cờ đỏ, họ có mặt mọi nơi, như thể muốn ăn tươi nuốt sống, muốn xé tan hết dấu vết của những lá cờ Tây Tạng, những hình ảnh Đức Dalai Lama được người ta rước trước ngực với lòng cung kính., họ muốn nhổ toẹt, họ gọi đức phật sống của người Tây Tạng là "bè lũ..." Đồng thời tôi cũng không bao giờ quên tấm biểu ngữ thật đẹp đẽ, được làm trong suốt để có thể nhìn nó từ mọi phía, bay phấp phới trên cầu Golden Gate lộng gió ở San Francisco. Ý nghĩa của hàng chữ "MỘT THẾ GIỚI, MỘT ƯỚC MƠ, TỰ DO CHO TÂY TẠNG" như thể những cái gai đâm xuyên vào mắt hàng tỉ người Trung Quốc.

Láng giềng gần ta là Thái Lan, Malayxia không đến nỗi gặp cơ hội "đình đám" kiểu như vậy, nhưng họ rất tự nhiên bảo vệ an toàn cho ngọn đuốc đồng thời chấp nhận cho người ta biểu tình trong trật tự để bày tỏ một cách ôn hoà, đó là cách xử sự đúng mực của một xã hội dân chủ, tiến bộ, cách xử sự của con người với con người trong thế kỷ XXI.

Chỉ cách đây vài giờ, đuốc Olympic 2008 rời Kuala Lampur để qua Indonexia, thêm vài điểm nữa rồi vào ngày 29 này sẽ đến VN…Rồi, cũng những nghi thức rước đuốc quen thuộc như mọi nơi, 2 hàng Siêu vệ sĩ mặc bộ đồ xanh trắng, vẻ hiền hoà nhưng luôn sẵn sàng cho ai đó nếm những thế võ độc nhất vô nhị, gây chấn thương, bại liệt cột sống tại chỗ. Còn chính phủ ở VN ta, các ngành các cấp cũng sẽ cam kết bảo vệ thành công sự an toàn cho ngọn đuốc Olympic như các nơi khác

Trước giờ đón đuốc, mọi người VN đang nôn nao hướng về Sài Gòn. Mừng vui, hớn hở, vinh dự, tự hào vì, trong ngọn lửa ấy, có sự sống của chính từng con người trên khắp thế giới hợp lại.

Để xem, dân Tầu sẽ kéo sang đông nghịt để to mồm cổ động, kệ bố tụi bây, bà mầy cóc cần để ý, mọi người dân VN sẽ chỉ quan tâm, chú ý tới những lá cờ Tây Tạng...Có nhiều thứ khác, hay ho, lý thú hơn lá cờ Tầu sẽ xuất hiện trên bầu trời Sài Gòn, tại sao lại không ?

Một cái gì đó đang ngổn ngang, hỗn độn trong tôi. Đuốc chưa đến nhưng mọi thứ đang nóng dần, nóng dần...Tôi đang nôn nao, mường tượng cảnh lễ rước đuốc tại Sài Gòn, trước ống kính máy quay của các hãng truyền thông quốc tế, thế giới họ sẽ biết gì, hiểu gì về mối quan hệ giữa Trung Quốc với VN ?

Còn 7 ngày nữa. Hừm! để bớt căng thẳng, ngay bây giờ đây, tôi sẽ lôi giấy bút, viết thật to, viết rõ ràng những hàng chữ như tôi từng ước ao từ lâu:

-Hoàng Sa – Trường Sa belong to Việt Nam!

-Trung Quốc đừng ỷ lớn hiếp nhỏ, đừng lấy thịt đè người!

-Trung Quốc phải xấu hổ với thế giới vì ý đồ thôn tính từng phần đất của VN!

-Hãy trả lại những phần đất Trung Quốc từng chiếm đoạt của VN!

-Trung Quốc chưa bao giờ xứng đáng là nước lớn!

- Trung Quôc tổ chức Olympic là sai lầm của ông chủ tịch IOC!

-Shame on China!

-Kịch liệt phản đối Trung Quốc xâm phạm lãnh thổ Việt Nam!

-Trung Quốc miệng NAM MÔ, bụng một bồ DAO GĂM!

-Don't believe China!

-Người Việt Nam yêu đất nước Việt Nam - thù quân bành trướng Trung Quốc đời đời kiếp kiếp!

21 tháng 4 năm 2008

Wednesday, 2 April 2008

Úm ba la




Từ lúc các vòng bầu cử sơ bộ tổng thống Mỹ diễn ra đến nay, bên đảng Cộng hoà coi như đã yên vị. Thượng nghị sĩ Mitt Romney và Mike Huckabee, vì lợi ích của đảng mình cùng lợi ích quốc gia mà đồng lòng nắm tay nhau rút lui. Ông John Mc Cain thở phào, ẵm gọn cái xuất đề cử chính thức ứng viên TT của đảng Cộng Hoà, một mình một ngựa thẳng tiến. Thời gian thênh thang, ông TNS "Cựu phi công phản lực cơ tù binh chiến tranh VN" này lạng một vòng qua tận Iraq, một công đôi việc, trước là thăm hỏi anh em binh sĩ, chúc sức khoẻ rồi động viên, sau nữa phần quan trọng nhất là dặn dò ủng hộ cho đảng Cộng hoà nhé nhé! Rồi tiện thể ông ghé luôn một số nước Châu Âu để tiếp tục vận động, từ xa. Lợi thế của John Mc Cain đương nhiên là sự ủng hộ mạnh mẽ của TT Bush đương nhiệm, ông sẽ tiếp nối những gì ông Bush đang làm và chưa làm được, đường lối chính sách của chính phủ tương lai của ông đã rõ như ban ngày!

Về phía những người ủng hộ đảng Dân chủ, họ sốt ruột và nôn nóng ra mặt. Thực tế thì ông Obama vẫn dẫn trước bà Clinton khoảng 150 phiếu đại cử tri, nhưng thực ra cả hai còn cách xa số phiếu tối thiểu cần có, để được chọn ra làm đại diện ứng viên TT chính thức cho đảng mình. Giới chính trị gia kỳ cựu phân tích cả hai TNS đều khó lòng đáp ứng được yêu cầu này nếu cứ kéo dài tình trạng bất phân thắng bại như hiện nay, thiệt thòi cho đảng Dân chủ là không nhỏ. Cách đây 2 ngày, những người ủng hộ Obama đã lên tiếng kêu gọi bà Clinton hãy bỏ cuộc, để tránh tổn thất cho Đảng này , nhưng tôi tin bà chẳng thể rời cuộc đua này một cách dễ dàng.

Clinton đối với tôi là một phụ nữ hiếm hoi, một phụ nữ có hệ thần kinh cứng như thép, mặc dù trước khi cuộc đua vào đến hồi khốc liệt nhất, đã có lúc mắt bà gần như rơm rớm khi trả lời phỏng vấn của báo giới... nhưng nhìn bà tôi luôn cảm nhận bên trong con người ấy tiềm ẩn một nội lực mạnh mẽ, phi thường.

Thường là tôi bỏ dở tất cả mọi công việc khi thấy bà xuất hiện trên truyền hình, mặc dù vốn tiếng Anh lõm bõm chỉ câu được câu chăng, tôi vẫn nghe và theo dõi cho đến hết. Tôi thấy bà có đủ cả nét đẹp, sự sang trọng, về thể chất cũng như tầm hồn dành cho một phụ nữ, cũng như thừa sắc xảo, thông thái, mưu lược cho vai trò đứng đầu một quốc gia văn minh, 300 triệu dân.

Có những lý do để tôi khao khát bà Clinton làm tổng thống. Thứ nhất vì nước Mỹ chưa từng có nữ tổng thống. Thứ hai bà đã từng đến VN, thứ nữa chỉ đơn giản vì bà là phụ nữ, từ lâu, lúc ông Clinton còn đương chức, tôi thực lòng rất quý mến bà cũng như cả gia đình Clinton. Đối với tôi, thời kỳ kinh tế ổn định và thịnh vượng trong 2 nhiệm kỳ TT của chồng bà, ông Clinton trước đó sẽ mang đến cho bà những lá phiếu ủng hộ cần thiết và mạnh mẽ, người dân Mỹ sẽ nhìn thấy những giá trị đích thực của gia đình Clinton.

Tôi rất muốn được quan sát, dõi theo từng ly từng tí xem, sẽ ra sao khi phụ nữ gánh vác cái trọng trách nặng nề, có thể nói là phức tạp bậc nhất này. Không phải chỉ đơn thuần là việc điều hành một đất nước lớn mạnh, đa chủng tộc, đa văn hóa.... Mỗi tiểu bang đều có thể xem như một quốc gia với nhiều đặc điểm và niềm tự hào vô biên của họ, không bang nào giống bang nào... Nhưng xa và quan trọng hơn chính là những công việc cùng trách nhiệm lớn lao của đất nước Hoa Kỳ đối với cộng đồng các quốc gia trên thế giới, về vô số vấn đề, kể cả những nước giàu cho đến những nước còn nghèo đói, lạc hậu...

Như vậy, khi bà trở thành tổng thống Mỹ, không chỉ riêng tôi, tôi tin niềm hãnh diện phi thường ấy sẽ dành cho tất cả những ai là phụ nữ trên khắp thế giới .Thế nên, trước sau tôi cứ vẫn và luôn luôn ủng hộ bà. Nhiều đêm trong giấc ngủ không tròn, tôi mơ màng thấy bà đang đọc diễn văn trong buổi lễ tuyên thệ nhậm chức TT Hoa Kỳ trước một rừng người chật cứng trên quảng trường Mall ở thủ đô Washington...

Sáng hôm sau hì hục, lôi màu lôi cọ ra, tôi vẽ tấm biển giống như nhìn thấy trên CNN : Hillary for president. Tìm cái ống nhôm vuông tôi găm bảng lên đàng hoàng như thể chuẩn bị đi chiến đấu với Obama hay quan trọng hơn nữa là với đảng đối thủ, ông Mc Cain vậy.

Đôi khi tôi nghĩ lan man, nếu tấm lòng hâm mộ, quan tâm quá cỡ này của tôi đối với bầu cử Hoa Kỳ được thể hiện giật lùi về phía trước chừng hai thập kỷ, cái thời mà bang giao với Mỹ còn như đám rừng bị bom Napal, lâu vắng bóng người, cây cối cháy nám, đen còi trơ gốc... Có vậy thì tôi đã xanh xương chứ chẳng đùa!!

Ngày bầu cử "Super Tuesday" tháng trước, tôi theo ôm sát TV. Bảng kết quả điện tử live chạy báo ngay tức thì từng giây, đến tờ Washington Post hay New York Times của Mẽo bên ấy cũng chỉ nhanh đến thế là hết mức. Nhìn thấy bà Clinton thắng to, mẹ con tôi reo hò làm hàng xóm ngơ ngác, chả hiểu chuyện gì, họ nghi nhà tôi trúng độc đắc! Sau đó tôi dắt đãi cu cậu một chầu hamburger nóng hổi. Đang nhai nhồm nhoàm đầy miệng, cu cậu phát biểu "Bà Clinton cứ thắng đi cho con hưởng sái..." Đến lượt Obama thắng, mặt tôi méo xẹo, mặt cu cậu chẩy cứ như bánh đa nhúng nước, rồi lầu bầu "Không thể ưa được ông này, ghét thế..."

Cái Thảo, cháu gọi tôi bằng cô, mới sang học ở San Jose được vài tháng. Tôi ra sức tranh thủ "nói bác Ngọc, dì Quý, cậu Tuấn, cậu Hiệp, tất cả các anh, chị nhà bỏ phiếu Clinton cho cô nhé, đó chính là ủng hộ cô mầy vậy... "

Nó nói "Cô đừng lo, cháu thấy người ta ủng hộ bà ấy dữ dội, buổi nào bà diễn thuyết là đông nghẹt hà...". Hừm, tôi nghĩ bụng, Obama nào thua kém gì. Nghe bảo ông ấy có những buổi nói chuyện đầy thuyết phục, lay động lòng người lắm, đến nỗi có lúc người ta đứng cả dậy, hoan hô, vỗ tay rào rào như sấm .

Theo báo chí thống kê cho thấy 70% giới trẻ bất kể màu da ủng hộ Obama, trong khi đó ở tuổi trung niên 70 đến 80% phụ nữ ủng hộ Clinton. Thế là một đều. Nhưng ngoài ra tôi còn nhiều lý do khác nữa để lo lắng...

Hầu như giới truyền thông hoàn toàn "phải lòng" Obama mất rồi! Tôi thấy clip ca nhạc của những nghệ sĩ da màu ủng hộ ông mang tên "YES, WE CAN" được phát đi phát lại, những huyền thoại về Obama thi nhau ra lò..., những buổi phỏng vấn trực tiếp làm tách bạch, rõ ràng hơn, cụ thể hơn quan điểm, đường lối của ông về nhiều vấn đề to tát, hóc búa cho đến những chuyện đời thường nhỏ nhặt... họ không để trống một giây nào tung hết "chiêu" cho ứng viên tổng thống đang được giới truyền thông đặc biệt ưu ái!

Ngôi sao talk show truyền hình, bà béo có duyên Oprah Winfrey, giòng họ TT Kenedy tiếng tăm nữa..., tất cả họ đều xăn tay áo vận động hết cỡ cho Obama. Xa tít bên xứ sở Phù Tang, có thành phố mang tên Obama, dân chúng ở đây nhân cơ hội này ủng hộ ông sát rạt, bakery còn cho ra lò những chiếc bánh mì lốp nóng hổi có in tên Obama. Áo thun, túi xách, vật lưu niệm đều in hình vị TNS da màu này. Tất cả trở thành những điểm nhấn hết sức đặc biệt, ý nghĩa và sinh động mang thêm nhiều lợi thế cho ông ấy.

Đối với tôi, Obama là người đàn ông không hề đẹp trai và có một chút nào quyến rũ, trừ cái tài ăn nói. Nhưng với cái đà tâm phục khẩu phục của dân chúng Mỹ như hiện nay, nhất là giới trẻ đang dành cho ông, tôi chỉ dám giả dụ rằng, bao nhiêu tiền của và trí tuệ ông đã bỏ ra cho cuộc vận động này rồi chỉ trở thành kinh nghiệm, để tích luỹ...(thành thật xin lỗi những ai đang ủng hộ Obama!) chắc chắn một điều, ông ấy sẽ là vị tổng thống Mỹ trẻ tuổi trong một tương lai không xa. 47 tuổi, cơ hội đê làm tổng thống dành cho ông còn quá nhiều so với các đối thủ, nói đúng hơn là cơ hội cuối cho cả vị TNS Cựu phi công tàu bay phản lực và Cựu đệ nhất phu nhân Hoa Kỳ này của tôi mà !

Còn bây giờ, con số mới đây được bộ quốc phòng Mỹ thống kê nhân ngày kỷ niệm 5 năm cuộc chiến Iraq, tròn 4000 lính Mỹ tử trận, cuộc chiến Iraq lại đang trong hồi khốc liệt nhất mấy ngày vừa qua, sẽ nhanh chóng bị thay đổi. Dân chúng Mỹ đã ngán ngẩm, họ lặng lẽ và càng xa lạ hơn trước những ngân sách chi phí chiến tranh khổng lồ...

Thị trường Phố Wall đỏ lè đã nhiều ngày, màu xanh vẫn trốn mất biệt, Cục Dự trữ Liên bang họp báo, báo động khẩn cấp, cắt giảm lãi suất, một lần rồi đến hai lần, chỉ trong một thời gian ngắn ngủi... Mặc cho các tay phù thuỷ kinh tế tài chính danh tiếng, lẫy lừng đang dơ đũa hô biến, nền kinh tế đất nước hùng mạnh này vẫn tiềm ẩn ở đâu đó nguy cơ suy thoái, nó vẫn ẻo lả, thoắt ẩn hiện như những bóng ma trong phim kinh dị!

Vâng, hẳn rồi, dân chúng Mỹ, họ không có lý do để chọn lựa ông Mc Cain. Một sự chọn lựa mà rồi ngày ngày, chỉ dành cho những phát súng cùng các nghi thức trọng thể để đón những quan tài binh sĩ Mỹ, phủ tấm quốc kỳ hai màu xanh đỏ, có cả hùng tráng lẫn bi thương...

Bà Hillary Rodham Clinton ơi! Nơi đây tôi chờ, nơi kia tôi chờ! Hãy nói với tôi. Bà sẽ làm Tổng thống Mỹ! Cảm ơn bà.

Chelsea Clinton, con gái yêu quý của bà đã chẳng bảo với mọi người "Mẹ tôi làm tổng thống tốt hơn bố tôi"

Viết sau ngày Cá tháng tư, khi trời bắt đầu oi ả.

Saturday, 29 March 2008

Mặt trận im thin thít!

"Trên bản đồ thế giới, hình thể đất nước ta như hình ảnh người nông dân đội nón trên đầu, đang oằn mình dưới sức nặng của khối Trung Hoa lục địa... "

Phát biểu của GS Tương Lai tại
Hội nghị Ủy Ban Trung Ương
Mặt Trận Tổ Quốc Việt Nam
(GS Tương Lai, một nhà trí thức tên tuổi, nguyên Viện trưởng Viện Xã hội học VN)

Cũng như mọi năm, tại Hội nghị Ủy ban trung ương MTTQVN lần này, tôi xin được phát biểu ý kiến, và lần này tôi xin nêu ý kiến về hai vấn đề.

Vấn đề thứ nhất: diễn đàn của Mặt trận là một diễn đàn rộng rãi nhất, cởi mở nhất của nước ta hiện nay. Tại đây, làm sao qui tụ được trí tuệ, ý chí, nguyện vọng của mọi tầng lớp nhân dân, thiết tha với vận mệnh dân tộc, không phân biệt quá khứ, tôn giáo tín ngưỡng, ý thức hệ, là đòi hỏi của đất nước trong giai đoạn lịch sử mới. Những ý kiến đó có thể trái tai với những cá nhân nào đó, cho dù đang ở cương vị nào, nhưng miễn là ý kiến ấy xuất phát từ một động cơ trong sáng vì nước, vì dân thì rất cần khuyến khích phát biểu. Có như vậy thì Mặt trận mới thực hiện chức năng cao cả của nó là một tổ chức chính trị rộng lớn nhất, đại diện cho ý chí và nguyện vọng của mọi tầng lớp nhân dân trong và ngoài nước, chứ không chỉ là một tổ chức hoạt động từ thiện, xóa đói giảm nghèo, mặc dầu hoạt động này trong thời gian qua đã có đóng góp rất lớn và thiết thực, cần được tiếp tục phát huy.

Văn kiện Đại hội X của Đảng cộng sản Việt Nam đã ghi rõ: "Ở đâu có dân chủ, ở đó có đoàn kết, đồng thuận và phát triển" ( tr.344). Tạo điều kiện, tạo môi trường để phát huy dân chủ thực sự phải là một chức năng chủ yếu của Mặt trận, đặc biệt là trong giai đoạn hiện nay, khi mà tiến trình phát triển đất nước và hội nhập quốc tế đi vào chiều sâu, đòi hỏi phải quy tụ được sức mạnh của toàn dân tộc, trước hết là sức mạnh trí tuệ của người Việt nam, tạo nên được một sự đồng thuận mới, là một nhu cầu của chính sự phát triển và hội nhập ấy. Muốn quy tụ được hiền tài để cùng nhau gánh vác sự nghiệp của đất nước thì phải thật lòng đoàn kết. Có thật lòng đoàn kết mới có dân chủ thực sự. Chất lượng của khối đại đoàn kết dân tộc được nâng cao đến đâu thì việc thực hành dân chủ tiến triển được đến đó. Sức nam châm có lực hút hiền tài là thái độ chân thành thật lòng đoàn kết được thể hiện rõ ràng gắn liền với độ rộng mở của dân chủ thực sự trong việc tạo ra môi trường thuận lợi để cho những tài năng thật sự có thể phát huy. Đúng là "phải thật sự công tâm, khách quan và đặc biệt là phải thực sự dân chủ; vì không dân chủ, hay chỉ dân chủ hình thức thì không chọn được người tài" như sự khẳng định của người đứng đầu Chính phủ trong cuộc đối thoại trực tuyến đầu năm ngoái.

Khi vị thế của Việt Nam đang được nâng cao, thì năng lực và kinh nghiệm để đảm trách những hoạt động quốc tế, trên thương trường cũng như trên chính trường, là những đòi hỏi bức xúc. Để đáp ứng đòi hỏi đó thì việc thật lòng đoàn kết và thực sự dân chủ là điều kiện tiên quyết để mời gọi những hiền tài, những chuyên gia giỏi trong và ngoài nước, tự nguyện tham gia cùng gánh vác công việc khó khăn đó. Người làm công tác Mặt trận phải thấu triệt vai trò lớn lao quy tụ hiền tài của tổ chức chính trị lớn nhất trong hệ thống chính trị của cả nước. Để làm được điều đó, người làm công tác Mặt trận phải có chính tâm và có hiểu biết.

Về chính tâm, xin dẫn lời người xưa. Sách Luận ngữ, thiên Nhan Uyên có chép chuyện Quý Khang tử hỏi Khổng Tử về chính trị. Khổng Tử đáp: "Chính trị là chính đính. Ông cai trị dân một cách chính đính thì ai dám không chính đính". Trả lời Ai Công về cách cai trị để dân nghe theo, Khổng Tử chỉ nói một điều: "Đề cử người ngay thẳng lên trên người cong queo thì dân phục tùng, đề cử người cong queo lên trên người ngay thẳng thì dân bất phục". Mà để làm được điều đó thì ngoài sự chính tâm, cần phải có hiếu biết.

Câu nói nổi tiếng của Khổng Tử về sự hiểu biết và cách học để có sự hiểu biết đó là một đúc kết có giá trị vĩnh cữu. Giá trị vĩnh cửu ấy càng tăng thêm trong điều kiện của thời đại kinh tế tri thức và nền văn minh trí tuệ của thế kỷ XXI: "Tri chi vi tri chi, bất tri vi bất tri, thị tri dã". Biết điều gì thì nhận là biết, không biết thì nhận không biết, như vậy chính là biết.

Trong nhận thức của tôi, qua mấy nhiệm kỳ tham gia vào UBTƯMTTQ từ năm 1983 đến nay, tôi nghiệm ra rằng, làm công tác Mặt trận vừa rất dễ, vừa rất khó. Dễ thì như loại tôi, mỗi năm cố gắng suy nghĩ để có được một bài phát biểu và rồi xuân thu nhị kỳ có đôi lần họp Hội đồng tư vấn. Hoặc như một số cán bộ chuyên trách làm nhiệm vụ như các cán bộ, viên chức của bất cứ cơ quan Nhà nước nào. Nhưng khó, cực khó là làm sao để cho công tác Mặt trận thực sự là công tác vận động tri thức, nhân sĩ và các tầng lớp nhân dân kết thành khối đại đoàn kết dân tộc, đoàn kết thật lòng để cùng nhau xây dựng và bảo vệ đất nước. Người cán bộ Mặt trận phải có sức thu hút và thuyết phục mọi người, trước hết là những người tiêu biểu cho khối đại đoàn kết dân tộc. Và đấy cũng là kỳ vọng của chúng tôi đối với Mặt trận.

Vấn đề thứ hai: Mặt trận phải là nơi khơi động và phát huy tinh thần yêu nước của mọi tầng lớp nhân dân ta. Chủ tịch Hồ Chí Minh từng khẳng định đó là một truyền thống quý báu của nhân dân ta. Từ xưa đến nay, mỗi khi Tổ quốc bị xâm lăng, thì tinh thần ấy lại sôi nổi, nó kết thành một làn sóng mạnh mẽ, to lớn, nó lướt qua mọi sự nguy hiểm, khó khăn, nó nhấn chìm tất cả lũ bán nước và lũ cướp nước. Cụ Hồ chỉ rõ: "Tinh thần yêu nước, cũng như các thứ của quý, có khi được trưng bày trong tủ kính, trong bình pha lê, rõ ràng dễ thấy. Nhưng cũng có khi cất giấu kín đáo trong rương, trong hòm. Bổn phận của chúng ta là làm cho những của quý kín đáo ấy đều được đưa ra trưng bày…"

"Chúng ta" đây là ai? Là Đảng, là Mặt trận. Đặc biệt là Mặt trận. Chính vì thế, tôi rất băn khoăn thắc mắc và hôm nay, trên diễn đàn rộng lớn và hợp pháp này, muốn nói to lên thắc mắc băn khoăn đó để mong được giải đáp.

Ở thành phố Hồ Chí Minh, chỉ theo dõi được qua báo chí và mạng internet, tôi hết sức lạ là tại sao Mặt trận Tổ quốc Việt nam chúng ta không có bất cứ một tiếng nói, một động thái nào trong vấn đề Hoàng Sa và Trường Sa." Mỗi khi Tổ quốc bị xâm lăng", như lời cụ Hồ vừa dẫn ra ở trên, đáng lý Mặt trận Tổ quốc, kế tục truyền thống của Hội nghị Diên Hồng đời Trần, truyền thống của Mặt trận Việt Minh, Mặt trận Dân tộc Giải phóng,…, phải làm sống lại tinh thần bất khuất, quật cường khắc trên cánh tay hai chữ "sát thát", làm cho tinh thần yêu nước kết thành một làn sóng vô cùng mạnh mẽ, to lớn. Đằng này Mặt trận tuyệt đối im lặng. Thật là lạ. Một chuyện xảy ra tận Cuba bên kia bán cầu, Mặt trận đã có ngay lời tuyên bố đanh thép. Thế mà, Hoàng Sa, Trường Sa máu thịt của Tổ quốc bị người ta mưu toan lấn chiếm, biến thành quận huyện của của họ, thì Mặt trận lại im thin thít. Vì sao? Mặt trận Tổ quốc có còn kế thừa truyền thống của Mặt trận Việt Minh, Mặt trận Dân tộc Giải phóng nữa không?

Trong một bài báo viết nhân dịp này, tôi dẫn ra chỉ dụ của vua Lê Thánh Tông nhắn nhủ "bọn thái bảo Kiến Dương bá Lê Cảnh Huy": "Một thước núi, một tấc sông của ta, lẽ nào lại có thể vứt bỏ? Ngươi phải kiên quyết tranh biện, chớ cho họ lấn dần. Nếu họ không nghe, còn có thể sai sứ sang phương Bắc trình bày rõ điều ngay lẽ gian. Nếu ngươi dám đem một thước, một tấc đất của Thái tổ làm mồi cho giặc, thì phải tội tru di", chép rõ ràng trong Đại Việt sử ký toàn thư, Bản kỷ thực lục, Kỷ Nhà Lê, bị tòa soạn cắt mất. Thậm chí cắt cả câu nói của Chủ tịch Hồ Chí Minh tôi dẫn ra ở trên. Tôi hỏi, Tòa soạn trả lời là có sự chỉ đạo buộc họ phải làm như vậy mặc dầu họ không muốn.

Ai mà chỉ đạo lạ vậy. Họ có còn là con cháu của Trần Hưng Đạo, Lê Lợi, Nguyễn Trãi, Quang Trung. Hồ Chí Minh nữa không? Sao lại ngăn chặn tinh thần yêu nước của nhân dân, của thanh niên, sinh viên? Liệu Mặt trận có tham gia vào sự chỉ đạo này không? Người của tòa báo nọ giải thích với tôi, đây là sự tế nhị ngoại giao. Có thể có chuyện đó. Hoạt động ngoại giao đòi hỏi sự tế nhị, chuyện đó tôi không dám bàn. Nhưng để cho nhà ngoại giao tế nhị, thì nhân dân lại phải biểu tỏ ý chí của mình để làm hậu thuẫn cho nhà ngoại giao.

Từng tấc đất của Tổ quốc thẫm đẫm máu Việt nam không thể nào để bị cướp mất, trong đó có những tấc đất Hoàng Sa, Trường Sa. Một bà bán rau ngoài chợ hỏi một cách hồn nhiên khiến người đang cầm mớ rau ngỡ ngàng đến sững sờ: "Làm cách nào để biểu tỏ lòng yêu nước đây hở ông, con tôi nó hỏi tôi thế, liệu yêu nước có bị nhắc nhở không". Bác lái taxi hỏi một câu bâng quơ mà khiến người ngồi trên xe hiểu rằng ông ta hỏi mình, cổ cứ tắc nghẹn, lúng túng không nói được ra lời, cho dù là một lời tạ lỗi "thế là mình đành để mất hở ông, làm sao có chuyện đó được, phải dấn mạnh lên thì chúng nó mới chịu lùi chứ". Một ông già dừng xe cạnh tấm biển chỉ tên đường Lê Duẩn, con đường chạy thẳng vào dinh Thống Nhất, nói nhỏ nhẹ với những người đứng cạnh, "thế mới biết ông cha mình giỏi thật, bao nhiêu năm kiên cường giữ nước trong cái thế cái lực kém xa bây giờ". Ông già am hiểu lịch sử ấy nhắc đến việc ông vừa đọc được trên một tờ báo tuần trước câu chuyện một người nước ngoài miêu tả rất thú vị về nước Việt Nam mình: trên bản đồ thế giới hình thể đất nước trông giống như một người nông dân đội nón ở trên đầu, oằn mình dưới sức nặng của cả khối lục địa Trung Hoa từ trên nén xuống khiến cái lưng của Việt nam phải uốn cong để đủ sức chịu đựng lâu dài, và cũng nhằm dồn lực để bật dậy khi cần thiết. Đó là dáng uốn cong của cánh cung để tạo ra sức bật. Và trước khi đạp xe đi tiếp, ông buông một câu: ý dân là ý trời!

Để có Hiệp định Genève 1954, phải có 09 năm kháng chiến và chiến thắng Điện Biên Phủ 7.5.1954. Để có Hiệp định Paris 1973, lại phải có "Điện Biên Phủ trên không" từ ngày 18 đến ngày 29.12.1972. Trước đó 5 năm, cũng vào tháng 12 năm 1967, sau khi nghe báo cáo của Tư lệnh Phòng không-Không quân, Bác nói: "Sớm muộn rồi đế quốc Mỹ cũng sẽ đưa B52 ra đánh Hà nội, rồi có thua mới chịu thua…Nó chỉ chịu thua sau khi thua trên vùng trời Hà nội. Vì vậy nhiệm vụ của các chú rất nặng nề". Và rồi hiện thực lịch sử đã minh chứng cho lời "tiên tri" Bác Hồ. Trong lời "tiên tri" đó, ẩn chứa một nhận định mang tính qui luật: "Chỉ có thể đàm phán khi có thực lực được hậu thuẫn bởi ý chí và sức mạnh được khởi động từ nhân dân”. Và điều này đâu phải là sự khám phá của thế kỷ XX.

Lần mở lịch sử, thấy có sự trùng hợp rất thú vị về "Hội thề Đông Quan" cũng diễn ra vào tháng 12, ngày 10.12.1427, cách nay đúng 580 năm. Hội thề Đông Quan bên bờ sông Nhị đó đã mở đường cho Vương Thông rút quân. Sách Đại Việt sử ký toàn thư chép lời Lê Lợi: "Không thích giết người là bản tâm của bậc nhân đức. Vả lại, người ta đã hàng mà mình giết thì là điềm xấu không gì lớn bằng…chi bằng tha mạng sống cho ức vạn, để dập tắt mối chiến tranh cho đời sau, sử xanh ghi chép, tiếng thơm muôn đời, há chẳng lớn lao sao". Những lời tâm huyết đó chỉ có thể trên cái nền của những chiến công chói lọi mà Nguyễn Trãi đã viết trong "Cáo bình Ngô": "Lấy đại nghĩa thắng hung tàn, Lấy chí nhân thay cường bạo. Trận Bồ Đằng sấm vang chớp giật, Miền Trà Lân trúc chẻ tro bay…Voi uống cạn sông, gươm mài vẹt núi. Đánh một trận sạch không kình ngạc, Đánh hai trận tan tác chim muông…Lạng Giang, Lạng Sơn thây chất đầy đường, Xương Giang, Bình Than máu trôi đỏ nước".

"Là bản tâm của bậc nhân đức", đồng thời cũng là những ứng xử phù hợp với thực tế lịch sử, xuất phát từ vị thế địa-chính trị của đất nước mà cách diễn tả của người bạn nước ngoài về hình dáng của đất nước này trên bản đồ thế giới nêu trên đã giải thích điều ấy. Trong vị thế địa-chính trị ấy, bản lĩnh để tồn tại và phát triển đòi hỏi phải biết học bài học của ông cha, cùng với cái đó, phải biết khai thác những nhân tố mới, rất mới mà thời ông cha ta chưa có.

Lịch sử tồn tại và phát triển của một Việt Nam đất không rộng, người không đông, song với ý chí quật cường, dân tộc này vẫn kiên cường tồn tại. Mà vào buổi ấy, Việt Nam đơn thương, độc mã. Còn ngày nay, Việt Nam là một bộ phận của thế giới, là thành viên của khối ASEAN năng động và ngày càng đóng một vai trò quan trọng trong đời sống quốc tế, là thành viên của WTO, là ủy viên không thường trực của Hội đồng Bảo an LHQ, Việt Nam không hề đơn độc. Chúng ta hiểu mình cần làm gì và phải làm như thế nào để thực hiện nghĩa vụ thiêng liêng bảo vệ độc lập dân tộc, toàn vẹn lãnh thổ, góp phần tích cực gìn giữ hòa bình ở khu vực và thế giới. Trong bối cảnh đó, thực lực của ta không đơn thuần chỉ là sức mạnh kinh tế, quân sự, mà là cái thế chiến lược ta phải khéo vận dụng. Từ thế kỷ XIII, rồi thế kỷ XV, thế kỷ XVII, đơn thương độc mã, ông cha ta đã đánh tan tác thế lực ngoại xâm, không để mất một thước núi, một tấc sông, để lại giang sơn gấm vóc cho chúng ta hôm nay. Lẽ nào, trong thế giới của thế kỷ XXI này, chúng ta lại không biết tận dụng sức mạnh của thời đại để giữ gìn sự toàn vẹn lãnh thổ mà mỗi tấc đất đều thấm đẫm máu ông cha. Máu Việt nam cũng đã đổ ở Hoàng Sa, Trường Sa, mỗi người Việt nam hôm nay không quên điều đó.

May mắn thay, báo Thanh Niên, báo Người đại biểu Nhân dân, tiếng nói đại biểu Quốc hội và Hội đồng nhân dân đăng, tạp chí Tia Sáng đăng. Và rồi gần đây, đọc báo Thanh Niên, báo Tuổi Trẻ, tạp chí Xưa và Nay, báo Đại đoàn kết, tôi thấy đã có rất nhiều bài nói về Hoàng Sa, Trường Sa. Chắc là đã có sự chỉ đạo mới. Tuy vậy, là người của Mặt trận, tôi vẫn nghĩ là tờ báo của Mặt trận ta chưa có tiếng nói đúng tầm về chủ đề quan trọng và nhạy cảm này. Liệu có phải vì điều mà tôi tạm diễn đạt là "hội chứng kiểm điểm để kỷ luật" TBT báo do đăng bức thư của Đại tướng Võ Nguyên Giáp gửi các nhà lãnh đạo về quyết định đập bỏ Hội trường Ba Đình lịch sử, nơi ghi đậm dấu ấn những sự kiện lịch sử liên quan đến Chủ tịch Hồ Chí Minh và các đồng chí lãnh đạo khác, nơi thể hiện ý chí và sức mạnh của quân và dân ta trong sự nghiệp chống Mỹ cứu nước, giải phóng Miền Nam, thống nhất đất nước không?

Kể cũng lạ, tiếng nói tâm huyết của một vị "khai quốc công thần" mà tên tuổi của ông đã đi vào lịch sử, không chỉ của Việt Nam còn là của thế giới, mà còn bị bưng bít đến như thế thì liệu làm sao để kêu gọi, động viên nhân dân phát huy tinh thần làm chủ, tham gia đóng góp ý kiến với đường lối chính sách của Đảng và pháp luật của Nhà nước mà nghị quyết của Đại hội Đảng cộng sản Việt lần thứ X ghi rõ "không những là quyền mà còn là trách nhiệm" của mỗi công dân yêu nước.

Tờ báo của Mặt trận, vì đạo lý dân tộc, vì sứ mệnh của người làm báo mà đến xin phép Đại tướng để đăng bức thư đó lại được chỉ đạo, phải kiểm điểm và kỷ luật. Rất may là Đảng đoàn Mặt trận đã xử lý việc này một cách đúng đắn. Tại diễn đàn này, với tư cách là một ủy viên UBTƯMTTQVN, tôi xin chân thành bày tỏ lời hoan nghênh Báo Đại Đoàn Kết, điều tôi đã có dịp viết trong bài "Một việc đáng trân trọng" đăng trên tờ báo Pháp luật TP HCM ngày 6.12.2007. Xin chân thành cám ơn và hoan nghênh đồng chí Chủ tịch Phạm Thế Duyệt và các vị lãnh đạo khác của Mặt trận đã có sự xử lý thỏa đáng việc này.

Xin chân thành cám ơn đã cho tôi phát biểu ý kiến thẳng thắn mà không bị cắt giữa chừng, xin cám ơn các cụ và các vị đã chịu khó nghe.

Friday, 21 March 2008

Cơn ác mộng trước thềm Olympic

Jürgen Kremb

Tây Tạng: Dải Gaza của Trung Quốc

Trần Kh. dịch


Những gì xảy ra trên đường phố của Lhasa không phải là sản phẩm của "những kẻ đòi ly khai", mà là hệ quả của một chính sách lầm lạc. Nếu Trung Quốc còn muốn cứu vãn kỳ Thế vận hội sắp đến thì không thể cứ tiếp tục tuyên truyền kiểu cộng sản, mà phải bằng đối thoại. Đức Đạt Lai Lạt Ma hiển nhiên là một đối tác thích hợp hơn cho việc này, chứ không phải là những nhóm thanh niên Tây Tạng sẵn sàng bạo động.

Xe tăng trên đường phố Lhasa, những chiếc ô tô bốc cháy trên "mái nhà của thế giới" và hàng ngàn quân lính với những nòng súng sẵn sàng nhả đạn tìm cách tái lập sự yên bình bằng bạo lực của khí giới, cứ như thể Trung Quốc đã biến thành một nước "cộng hoà chuối" (banana republic) đang trên đà đổ sụp. Thêm vào đó là một số người bị thiệt mạng còn chưa được xác định ở cả hai phía. Đấy hẳn nhiên không phải là hình ảnh một Trung Quốc đang nổi lên như một tân cường quốc kinh tế mà Bắc Kinh đang muốn trình ra với thế giới trước kỳ Thế vận hội 2008, sự kiện được họ xem như là một lễ hội của thế kỷ.

Không, đấy quả là một cơn ác mộng. Trước nhất là cho những con người đang sống ở đấy, trong những ngày sắp tới, họ phải tính đến chuyện có thể rồi sẽ bị lôi ra khỏi nhà, sẽ phải nhận lãnh những bản án xấu nhất cũng như những đòn thù tra tấn. Chẳng còn ai nghĩ rằng chính quyền Bắc Kinh muốn tôn trọng nhân quyền trước kỳ Thế vận hội.

Trước khi ngọn đuốc Olympic được truyền đi trên đường phố Lhasa và theo dự định, sẽ còn được đốt lên trên đỉnh Everest vào quãng cuối tháng Tư, đầu tháng Năm, thì có lẽ các thẩm phán Trung Quốc đã tuyên đọc xong những bản án tử hình đầu tiên cho một số người tham gia các cuộc biểu tình.

Và đối với những viên chức thuộc ban Tổ chức Thế vận hội cũng như các chính trị gia Trung Quốc, những kẻ rất mong muốn được tắm mình trong vinh quang và hào quang toả chiếu từ những cuộc tranh tài thể thao sạch sẽ và "phi chính trị", thì những gì đang diễn ra ở Tây Tạng cũng là một cơn ác mộng kinh khủng nhất cho họ.


Hai mươi năm hoang phí

Những trò đổ lỗi cho nhau bây giờ chẳng có ích cho ai. Thay vào đó phải là sự ý thức và nhìn thẳng vào thực tại. Trên thực tế thì xung đột Tây Tạng là một vấn nạn chính trị và những gì diễn ra hiện nay ở đấy là hậu quả phải gánh chịu cho việc Bắc Kinh và chính quyền lưu vong Tây Tạng đã để 20 năm trôi qua một cách phí hoài mà không tìm ra được một giải pháp nghiêm túc và hoà bình nào cho những vấn đề của họ.

Lần cuối cùng cả hai phía có những cố gắng hoà giải là vào đầu những năm 80. Lúc bấy giờ, với sự đồng ý của chính quyền Trung Quốc, Đức Đạt Lai Lạt Ma đã cử tổng cộng ba phái đoàn về Tây Tạng, gồm những họ hàng thân thích của ông, những chính khách lưu vong và những sư sãi thuộc hàng lãnh đạo Phật giáo. Đoàn nào về cũng gây ra một sự xáo động trên "mái nhà của thế giới".

Dân chúng đã bật khóc và tường thuật về những khổ nạn không thể nào kể xiết, về những vi phạm nhân quyền thô bạo nhất mà họ dã chịu đựng trong thời kỳ Cách mạng Văn hoá (1966-1976), về âm mưu diệt chủng và việc huỷ hoại nền văn hoá Phật giáo cao quí của họ. Theo nhiều nguồn ước đoán khác nhau thì con số người Tây Tạng đã chết bởi quân chiếm đóng Trung Quốc cũng như qua các chiến dịch chính trị diễn ra tại đấy có thể lên đến 1 triệu 200 ngàn người, tính từ thời điểm Đức Đạt Lai Lạt Ma đã phải rời bỏ quê hương của mình vào tháng 3 năm 1959.


Ngôn ngữ tuyên truyền cộng sản lỗi thời

Bắc Kinh đã hoảng hốt vì không lường trước những chuyện đó và từ đấy đã tránh né mọi cuộc đối thoại. Với những khẩu hiệu của thời cộng sản "tiền sử", bất kỳ hình thức biểu tình nào, ngay cả những cuộc biểu tình của các sư sãi Phật giáo, cũng bị đàn áp và miệt thị là những "cuộc bạo loạn của đám côn đồ". Đức Đạt Lai Lạt Ma - qua ngôn từ thô thiển bốc ra từ chiếc rương đã mục ruỗng của phương cách tuyên truyền cộng sản - thì trở thành một "bàn tay đen đúa" hoặc "một kẻ đòi ly khai đang âm mưu chia cắt đất nước". Những lời mời từ phía chính quyền Trung Quốc hướng đến Đức Đạt Lai Lạt Ma, rằng ông và chính quyền lưu vong của ông có thể hồi hương, nhưng với điều kiện là phải sống ở Bắc Kinh chứ không phải tại Tây Tạng, đã cho thấy rõ Đảng Cộng sản Trung Quốc thực tâm tới mức nào với lời mời của họ. Ngay đến cả việc lưu giữ hình ảnh Đức Đạt Lai Lạt Ma cũng bị trừng phạt.

Trong thực tế thì những nhân vật ở Trung Nam Hải, trụ sở của Bộ Chính trị Đảng Cộng sản Trung Quốc, hoàn toàn không quan tâm đến một giải pháp khả dĩ có thể chấp nhận bởi hai phía cho cuộc xung đột này. Bắc Kinh dựa vào khối dân số khổng lồ của họ, mưu đồ đè bẹp Tây Tạng bằng hình thức đồng hoá và chính sách định cư dân Trung Quốc. Từ nhiều thập niên nay, chính quyền Trung Quốc đã khuyến khích cán bộ, nông dân và thợ thuyền của họ đến lập nghiệp ở đấy, nơi mà người Tây Tạng đã từng một thời là sắc dân chiếm đa số.

Điều này không chỉ diễn ra trên vùng đất có tên "Khu vực Tự trị Tây Tạng", mà còn ở những tỉnh lân cận như Thanh Hải (Qinghai), Cam Túc (Gansu) và ở những vùng ven của tỉnh Tứ Xuyên (Sichuan), tất cả đều là nơi sinh sống hiện nay của gần 6 triệu người Tây Tạng. Cao điểm của chính sách này là việc xây dựng đường xe lửa đến Lhasa, được khánh thành cách nay ba năm. Điều thoạt tiên có vẻ như không có gì tệ hại này - bởi nhờ đó mà sự phồn vinh phát sinh từ những cải cách kinh tế cũng đến được với những vùng kém phát triển - rốt cuộc đã làm cho dân bản xứ trở thành những kẻ thiểu số ngay trên chính quê hương mình.


Đức Đạt Lai Lạt Ma thiếu một tầm nhìn xa về chính trị

Điều đáng tiếc là trong chiều ngược lại, Đức Đạt Lai Lạt Ma cũng đã bỏ lỡ nhiều dịp để đáp trả lại những điều ấy bằng những hoạch định chính trị thích ứng. Cũng phải thừa nhận rằng, với tư cách là một chính trị gia lưu vong và đồng thời cũng là một nhà tu hành chỉ có thể dùng phương pháp đấu tranh bất bạo động, thì ông cũng không có nhiều khả năng để lựa chọn. Nhưng dù ông có nổi tiếng như một kiểu "Pop star của sự quán tưởng và trầm tư" chu du cùng khắp thế giới, thì trong thực tế ông đã không mấy thành công trong việc đề ra một viễn cảnh chính trị cho tương lai dân tộc mình.

Đúng là kể từ giữa những năm 80, ông đã thôi không còn đòi hỏi một quốc gia độc lập cho quê hương bị chiếm cứ của mình. Điều mà vị lãnh tụ tinh thần của Tây Tạng mong muốn chỉ còn là một "quyền tự trị và độc lập văn hoá", như Mao Trạch Đông đã hứa hẹn với ông sau cuộc chiếm đóng năm 1951.

Nhưng cũng còn một sự thực khác, đấy là việc chính quyền lưu vong của ông vẫn còn mãi loay hoay với những ý niệm ám bụi lỗi thời, chẳng hạn như câu hỏi liệu nước Tây Tạng cũ trước khi bị Trung Quốc xâm chiếm đã từng là một quốc gia độc lập hay chỉ là một vùng đất nằm dưới sự thống trị của một Trung Quốc bá chủ. Điều khiến cho Trung Quốc thêm ngờ vực là Đức Đạt Lai Lạt Ma - mặc dù không dính dáng trực tiếp - nhưng hầu như vẫn được xem như là lãnh tụ của tổ chức có tên "Phong trào Vận động Tự do cho Tây Tạng" ("Free Tibet Campaign"), một phong trào đòi tự do và độc lập cho Tây Tạng.

Có thể chuyện đòi hỏi tự do cho Tây Tạng - như đã xảy ra với Kosovo và Đông Timor - là một điều đáng để ao ước. Nhưng vấn đề là tự do trong dạng vẻ nào? Như một Đông Timor nghèo đói và chìm đắm trong hỗn loạn, nơi mà ngay cả một người đã lãnh giải Nobel Hoà bình như Ramos Horta cũng chẳng còn thấy an toàn và được che chở? Hay là nên trở thành một kiểu "vườn bách thú-sắc tộc" Phật giáo, một địa điểm phục hồi sức khoẻ với bầu khí trong lành cho những người phương Tây và những ngôi sao Hollywood đã mỏi mệt với nền văn minh cơ giới? Đấy có thể là một ý tưởng tuyệt vời.

Tiếc rằng những thứ ấy chẳng ăn nhập gì với những chính sách dựa trên các khả năng và điều kiện thực tế. Trung Quốc sẽ chẳng bao giờ đồng ý trao trả độc lập cho Tây Tạng. Nước "Cộng hoà Nhân dân Trung Hoa" cộng sản - bấy lâu nay đã bước vào quá trình xoá bỏ những ràng buộc ý thức hệ - không tán thành điều này. Và cường quốc mang màu sắc dân tộc chủ nghĩa có tên gọi là "Nước nằm ở Trung tâm" - hiện đang toan tính thống trị cả tương lai châu Á - cũng không nốt. Và một nước Trung Hoa dân chủ - dần hình thành qua giao dịch kinh tế và thương mãi - trước sau vẫn chỉ là ảo tưởng của những kẻ mơ mộng ở phương Tây. Đối với Trung Quốc, Tây Tạng là "chuyện nội bộ" mà họ nhất định không cho phép ai xía mồm vào. Chính sách nhân quyền tồi tệ của siêu cường quốc Hoa Kỳ trong cuộc chiến đấu chống khủng bố hiện nay chỉ làm cho Bắc Kinh cảm thấy dễ dàng hơn trong việc tiếp tục duy trì đường lối cứng rắn của họ.

Vấn đề là: Trung Quốc phải hiểu rằng, trong một thế giới đã toàn cầu hoá thì chẳng còn có cái gọi là "những vấn đề nội bộ thuần tuý dân tộc". Người ta không thể muốn bay lên mặt trăng và đồng thời vẫn cứ khư khư bám vào những khái niệm về chủ quyền của thế kỷ thứ 19. Lhasa đã trở thành dải Gaza của Trung Quốc từ lâu rồi. Trên đường phố cũng như trong các chùa chiền, tiếng nói của những người ủng hộ Đức Đạt Lai Lạt Ma không còn là tiếng nói chủ đạo, mà chính là tinh thần của tổ chức "Nghị hội Thanh niên Tây Tạng" ("Tibetan Youth Congress").

Đấy là một nhóm người Tây Tạng lưu vong cực đoan, họ đã không còn đi theo đường hướng của Đức Đạt Lai Lạt Ma từ nhiều năm nay. Họ cho rằng con đường đấu tranh hoà bình của ông chẳng thể nào mang lại tự do cho quê hương, và dân Tây Tạng phải đi theo con đường của những phong trào giải phóng khác, như người Palestine và người Đông Timor.


Những kế hoạch đầy kịch tính cho Thế vận hội

Không phải Đức Đạt Lai Lạt Ma đã khiến cho vai trò của những thanh niên đầy giận dữ này trở nên quan trọng, mà chính bởi Trung Quốc không chịu thực tâm tìm kiếm một giải pháp chính trị cho Tây Tạng. Cũng giống như những đứa con của dải Gaza, lớp trẻ chống đối này thành hình là do chính sách đàn áp văn hoá và bị cô lập về mặt xã hội. Họ từ khước sự chỉ đạo của bất kỳ một kiểu "bề trên" nào. Và như thế, cái toan tính khởi thuỷ của những người cộng sản, là cứ đơn giản ngồi chờ cho đến lúc Đức Đạt Lai Lạt Ma qua đời thì vấn đề tự động sẽ được giải quyểt, đã bị những người theo xu hướng cực đoan này phá hỏng.

Và trên thực tế tiềm năng của lớp thanh niên cuồng nhiệt này còn rất lớn. Trong những tuần vừa qua, chính những cuộc tuần hành phản kháng từ Ấn Độ đi về hướng biên giới do họ tổ chức đã hâm nóng những cuộc biểu tình chống đối tại chính Tây Tạng. Nếu giới lãnh đạo Bắc Kinh tin rằng họ có thể dùng những biện pháp đàn áp thô bạo của lực lượng an ninh để ngăn chặn những thất bại có thể xảy ra trên mặt tuyên truyền đại chúng cho Thế vận hội, thì điều ấy chỉ làm lộ rõ rằng óc tưởng tượng của họ quả là quá nghèo nàn. Bởi liệu các ông các bà trong Bộ Chính trị sẽ xử sự như thế nào, khi hình ảnh của một nhà sư Tây Tạng tự thiêu trên sân cỏ Olympic Bắc Kinh được quay phim và phát tán đi khắp thế giới? Đấy là một chi tiết trong kịch bản được dự tính bởi lớp trẻ Tây Tạng đang nổi loạn.

Chìa khoá để giải quyết vấn đề nằm trong tay chính quyền Bắc Kinh, và họ không được phép chậm trễ. Trong những tuần lễ tới, áp lực quốc tế về việc tẩy chay Thế vận hội sẽ gia tăng, có thể trở thành một tai hoạ cho thể diện của Trung Quốc. Và đấy không phải chỉ là một thảm hoạ cho ban Tổ chức Thế vận hội, mà còn là cho tất cả các phía tham dự

Nếu muốn "Olympia Beijing 2008" không mang dư vị của "Berlin 1936", thì chủ tịch Đảng Cộng sản Trung Quốc Hồ Cẩm Đào phải tìm những giải pháp khác với những gì mà ông đã quen làm. Không phải là giải pháp sắt đá, mà phải là sự xuống thang hoà hoãn. Không phải là tiếp tục tuyên truyền ngu xuẩn, mà phải là đối thoại. Cái luận cứ rằng thể thao chẳng liên quan gì với chính trị hẳn là không còn dùng được.


Đức Đạt Lai Lạt Ma trên khán đài danh dự

Một bắt đầu tốt đẹp cho sự thay đổi này có thể là việc cho phép những quan sát viên quốc tế có mặt trong những phiên toà xử những kẻ bạo động ở Lhasa. Cũng như cần phải có những cuộc điều tra công khai, chẳng hạn việc trả lời câu hỏi là quân đội đã có nã đạn vào những thường dân phản kháng hay không, hay chỉ có việc người Trung Quốc định cư tại đấy bị giết bởi những kẻ đi biểu tình. Cả hai trường hợp, nếu có, đều phải bị đem ra xét xử.

Và nếu Trung Quốc thực sự là một cường quốc yêu chuộng hoà bình, thì thử hỏi có điều gì ngăn cản Bắc Kinh và chính quyền lưu vong Tây Tạng cùng bước vào một cuộc đối thoại thực sự để giải quyết các vấn đề của họ, trước khi Thế vận hội diễn ra. Không, một cuộc đối thoại, nếu có, không nên tổ chức ở Bắc Kinh, mà phải trên một phần đất trung lập. Nó cũng không nên diễn ra ở Washington hay Moskva. Jakarta hoặc Stockholm hẳn là những địa điểm thích hợp hơn. Hoặc cũng có thể là Genève, nơi đặt trụ sở của Uỷ ban Thế vận Quốc tế. Tất cả những điều này đòi hỏi sự thực tâm và sẵn sàng của một nước Trung Quốc đổi mới đã tháo bỏ mọi định kiến. Thật ra đấy cũng không phải là điều quá khó, bởi vì đấy chính là nước Trung Hoa mà những người tổ chức Thế vận hội 2008 ở Bắc Kinh muốn trình ra với thế giới. Với một điểm khác biệt, Đức Đạt Lai Lạt Ma được mời an vị trên khán đài danh dự. Nếu điều này xảy ra thì Trung Quốc sẽ nhận được sự kính trọng của toàn thế giới.


Bản tiếng Việt © 2008 talawas

Cao 4000m trên mực nước biển, Tây Tạng được coi là Roof of the World

Tuesday, 18 March 2008

Biến động tại Tây Tạng, phản ứng của cộng đồng thế giới...

Một số hình ảnh tại thủ phủ Lhasa Tây Tạng những ngày qua của hãng tin Reuters, AP...
Photo
Photo
Photo
Photo
Vị lãnh tụ tinh thần của nhân dân Tây Tạng, Đức Dalai Lama hiện phải lưu vong tại Ấn Độ
Người Tây Tạng lưu vong cùng những người ủng hộ cho nền độc lập của TâyTạng trên khắp thế giới đồng loạt biểu tình rầm rộ